Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vào thế kỷ 17 - 18 khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên được áp dụng ở khoa Vật lí - Tâm lí của trường Đại học LEIPZING (Đức) năm 1879. Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập….
Prancis Galton vận dụng nguyên tắc của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc của các loài” (Orgin of species - 1859) về sự khác nhau giữa các loài, vào khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính tâm lí và sinh lí liên quan đến yếu tố di chuyền. Nhằm chọn lọc những người có thể làm cha mẹ tốt, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con người liên quan đến trí tuệ. Năm 1916, hai nhà tâm lí học là Alfred Binet (người Pháp) là Lewis Terman (người Mỹ) đã kết hợp để đưa ra một bài trắc nghiệm nhằm xác định trí thông minh (chỉ số IQ). Bài trắc nghiệm này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, vì nó tỏ ra là một công cụ hữu hiệu hơn bất kì một phương háp nào khác để phân biệt trí tuệ của trẻ em ở các trường học.
Giữa thế kỉ 20, cùng với những ứng dụng rộng rãi của công nghệ tin học, người ta đã kết hợp cài đặt các chương trình, xử lí kết quả trên diện rộng, nhờ đó phương pháp TNKQ đã được coi là phương pháp khoa học và hiện đại trong kiểm tra đánh giá. TNKQ hiện nay phổ biến trong các trường học ở các nước Âu Mỹ. Có rất nhiều nhiên cứu về kĩ thuật đo lường trong giáo dục bằng TNKQ, nhiều nghiên cứu kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ, ưu và nhược điểm của chúng, đánh giá chính xác kết quả học tập kết hợp xử lí trên máy tính các số liệu về xây dựng và sử dụng nhnhanh chóng TNKQ, Popham, Glaer…. nghiên cứu ưu điểm của trắc nghiệm, tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kĩ thuật xây dựng loại câu hỏi trắc nghiệm này, tính toán độ giá trị, độ tin cậy của câu hỏi trắc nghiệm, bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm.
Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã công bố như: Erwin, Hopkins, Stanley… các tác giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của 4 mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm. Ở Việt Nam Ở nước ta, trong thập kỷ 70 đã có những công trình vận dụng câu hỏi TNKQ vào kiểm tra kiến thức học sinh. Tại các tỉnh phía Nam trước ngày giải phóng, TNKQ đã được dùng khá phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học. Trong những năm gần đây theo hướng đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, Bộ GD&ĐT đã giới thiệu phương pháp TNKQ trong các Trường Đại học và đã bắt đầu có những công trình thử nghiệm (Chẳng hạn: ĐH Tây Nguyên, ĐH Đà Lạt, … đã sử dụng TNKQ trong tuyển sinh đại học một số năm).
Đặc biệt, Bộ GD&ĐT đã thực hiện thành công đợt thi thử theo hình thức TNKQ đối với môn Ngoại ngữ ở lớp 12 năm học 2005 - 2006. Chính thức sử dụng hình thức thi TNKQ đối với môn Ngoại ngữ kể từ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2005 - 2006 và thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm học 2006 - 2007. Có thể nói cho đến nay, lịch sử của TNKQ đã trải qua rất nhiều năm kể từ khi A.Binet và Simon đưa ra những Test đầu tiên, việc ứng dụng nó trong thực tiễn của Việt Nam vẫn ở giai đoạn thử nghiệm và thích nghi hoá các trắc nghiệm của nước ngoài. Do đó, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng trắc nghiệm TNKQ vào lĩnh vực giáo dục nói chung và dạy - học toán ở trường phổ thông nói riêng.
Đánh giá trong dạy học 1. Đánh giá trong giáo dục Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo [5]. Đánh giá kết quả học tập Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình 5 hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn [5]. Mục đích đánh giá Phần này được trình bày theo [5] Đánh giá có nhiều mục đích khác nhau a) Đối với học sinh - Tuyển chọn và phân loại cho đúng năng lực, trình độ (đánh giá đầu vào).
- Xác định kết quả tiếp thu, vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có theo mục tiêu đề ra. - Thúc đẩy học sinh cố gắng khắc phục thiếu sót hoặc phát huy năng lực của mình. - Đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung so với mục tiêu đào tạo và yêu cầu của thực tiễn (đánh giá đầu ra). b) Đối với giáo viên - Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và rèn luyện của học sinh.
- Cung cấp thông tin phản hồi có tác dụng giúp họ giảng dạy và giáo dục tốt hơn. - Kết quả đánh giá tạo cơ sở điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của quá trình này. c) Đối với nhà trường và cơ sở đào tạo - Đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch đào tạo của các khoa, bộ môn, giáo viên căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường nói chung và các bộ phận chuyên trách nói riêng. - Đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của trường và cơ sở: + Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở cơ sở,… + Cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện dạy học,… - Đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế, chế độ, chính sách.
6 d) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - Đánh giá về dư luận xã hội, sự phản ánh của cơ sở cử người đi học, về cách thức tuyển sinh, về kết quả của toàn bộ hệ thống đào tạo, nhằm giúp cơ quan quản lý giáo dục thấy được thực trạng, nhu cầu và định hướng sửa đổi mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo,… - Đánh giá công tác tổ chức, quản lý đào tạo. Chức năng của đánh giá Hoạt động đánh giá có ba chức năng chủ yếu là kiểm tra, dạy học và giáo dục a) Chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản và đặc trưng, thể hiện ở chỗ phát hiện tình trạng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh để từ đó, xác định mức độ đạt được và khả năng tiếp tục học tập vươn lên của đối tượng. Mặt khác, nó còn thể hiện ở việc cung cấp phương tiện kiểm tra hiệu quả của các phương pháp, cách thức dạy học của giáo viên. b) Chức năng dạy học của kiểm tra, đánh giá thể hiện ở tác dụng có ích cho bản thân học sinh được kiểm tra và cả lớp trong học tập cũng như cho giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
Trong quá trình kiểm tra, học sinh được nghe lời giải thích bổ sung của giáo viên về nội dung kiểm tra mà học sinh nắm chưa vững. c) Chức năng giáo dục. Nhờ có kiểm tra, đánh giá, học sinh học tập và lĩnh hội được tri thức và kỹ năng một cách hệ thống hơn, sinh hoạt có nền nếp, kỷ luật cũng như rèn luyện ý chí tốt hơn. Kết quả kiểm tra, đánh giá giúp học sinh hiểu rõ bản thân mình, năng lực và hiểu biết của mình, hình thành thái độ đúng mức, củng cố niềm tin trong học tập tiếp theo.
Sự phân tích một cách thỏa đáng của giáo viên về kết quả đánh giá sẽ giáo dục lòng khiêm tốn, tự trọng, khích lệ tinh thần vươn lên, ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với bạn bè và tạo nên uy tín của cả lớp. Ba chức năng này luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, có thể có những cách kết hợp khác nhau tùy đối tượng, hình thức, phương pháp đánh giá. Do đó, có thể trong từng trường hợp cụ thể, một chức năng nào đó sẽ trội hơn.
Các loại đánh giá Phần này trình bày theo [6] a) Đánh giá chẩn đoán Đánh giá chẩn đoán (diagnosis evaluation) là một thành phần quan trọng của dạy học hiệu quả, làm cho việc dạy học phù hợp hơn với nhu cầu và vốn kiến thức của học sinh. "Chẩn đoán" trong giáo dục không chỉ để nhận dạng các khó khăn và các thiếu hụt trong kiến thức mà còn để nhận dạng các điểm mạnh và các năng lực đặc biệt của học sinh. Giáo viên chẩn đoán nhằm giúp học sinh học tốt hơn chứ không phải để "dán nhãn" học sinh. Các kết quả của chẩn đoán được sử dụng để lập nên một kế hoạch dạy học nhằm loại bỏ các trở ngại của việc học.
Hơn nữa, nhờ sự nhận diện được các học sinh khá đã nắm vững nội dung để có kế hoạch giao các nhiệm vụ khó hơn nhằm tránh nhàm chán cho học sinh khá giỏi này. Vào đầu một chương, một chủ đề mới theo truyền thống người ta cho rằng mọi học sinh đều đứng ở vị trí "điểm không" tưởng tượng. Điều đó có nghĩa là mọi học sinh đều đã nắm vững mọi kiến thức, kĩ năng cần thiết cho việc học nội dung mới. Một chức năng cốt yếu của đánh giá chẩn đoán là nhận diện những học sinh nằm ở dưới điểm không để có kế hoạch tiến hành các phụ đạo bổ sung cần thiết.
Một trong những vấn đề của học sinh kém thường là bị các lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng cần thiết khi bước vào học nội dung mới và chúng thường nằm ở dưới điểm không. Vì vậy, bước đầu tiên là phải giúp đỡ cho các em này có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết này. Các biểu đồ chẩn đoán của giáo viên.