Đặt vấn đề Ngày nay điện năng giữ một vai trò chủ lực trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội toàn cầu nói chung và nƣớc ta nói riêng. Nhu cầu sử dụng điện năng của con ngƣời không ngừng gia tăng và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó với chính sách mở cửa của nhà nƣớc đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển ngày càng nhanh của các ngành công nghiệp… đã làm hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy ra đời và phát triển theo dây chuyền sản xuất khép kín và công nghệ hiện đại. Do vậy nhu cầu sử dụng điện dân dụng và công nghiệp của cả nƣớc rất lớn, đòi hỏi hệ thống điện phải đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển đó.
Có thể nói mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề trong sản xuất và đời sống đều liên quan đến ngành công nghiệp điện lực. Điện năng đƣợc sử dụng rộng rãi, thuận tiện trong đời sống và sản xuất là bởi vì điện có thể truyền tải đi xa, nhanh, hiệu suất cao và dễ dàng biến đổi thành các dạng năng lƣợng khác. Từ đó, đòi hỏi hệ thống cung cấp điện không những phải làm việc liên tục ổn định để đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng mà còn phải đảm bảo tính an toàn và chất lƣợng. Quy hoạch và mở rộng hệ thống truyền tải là một nhiệm vụ rất quan trọng trong ngành điện, thƣờng đƣợc thực hiện sau khi quy hoạch nguồn điện.
Nhiệm vụ chính của quy hoạch và mở rộng hệ thống truyền tải là xác định vị trí tối ƣu, công suất và thứ tự ƣu tiên sẽ đầu tƣ của từng đƣờng dây, đảm bảo yêu cầu dự đoán phụ tải dài hạn với tổng chi phí đầu tƣ thấp nhất. Các thiết kế tối ƣu của quy hoạch mở rộng hệ thống truyền tải là một phần quan trọng của nhiệm vụ quy hoạch tổng thể của hệ thống điện trong thị trƣờng điện cạnh tranh. Tuy nhiên, nó rất khó khăn để quyết định một cách hợp lý các tiêu chuẩn độ tin cậy tối ƣu của một hệ thống truyền tải cũng nhƣ mở rộng hệ thống truyền tải [1]. Nghiên cứu tối ưu độ dự trữ trong quy hoạch hệ thống truyền tải là nhằm giải quyết vấn đề phát triển hệ thống truyền tải điện hiện nay và trong tƣơng lai ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tối ƣu độ dự trữ trong quy hoạch hệ thống truyền tải bằng thuật toán cận biên và nhánh. Hàm mục tiêu là tối thiểu tổng chi phí đầu tƣ và điều kiện 12 ràng buộc không chỉ đáp ứng yêu cầu của phụ tải dự đoán dài hạn mà còn xác định tối ƣu độ dữ trữ nút thanh cái. Nhiệm vụ nghiên cứu Quy hoạch lƣới điện là giải bài toán tối ƣu nhằm xác định vị trí, công suất cần mở rộng nhƣng phải đáp ứng một tập hợp các điều kiện ràng buộc. Đề tài tập trung nghiên cứu thực hiện những nhiệm vụ sau: Đánh giá độ tin cậy của hệ thống theo phƣơng pháp xác suất ngẫu nhiên.
Ứng dụng thuật toán cận biên và nhánh để giải bài toán quy hoạch lƣới. Có hàm mục tiêu là tối thiểu tổng chi phí và đáp ứng điều kiện ràng buộc là độ dự trữ nút thanh cái. Xây dựng phƣơng pháp xác định điểm tối ƣu độ dự trữ nút thanh cái. Đánh giá độ ổn định hệ thống điện sau khi quy hoạch bằng phần mềm PowerWord.
Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phƣơng pháp toán Sử dụng phần mềm máy tính để mô phỏng 5. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung thực hiện quy hoạch lƣới điện. Nghiên cứu sử dụng dự đoán phụ tải có sẵn theo nhà quản lý hệ thống. Nội dung luận văn: CHƢƠNG I: Giới thiệu: CHƢƠNG II: Đánh giá độ tin cậy: CHƢƠNG III: Quy hoạch lƣới điện: CHƢƠNG IV: Tối ƣu độ dự trữ: CHƢƠNG V: Đối tƣợng nghiên cứu CHƢƠNG VI: Kết luận và kiến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 CHƢƠNG II: ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN 1.
Các khái niệm cơ bản về độ tin cậy hệ thống điện 1. Định nghĩa Độ tin cậy đƣợc định nghĩa là khả năng mà một phần tử hay hệ thống thực hiện một chức năng theo yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định trong một điều kiện vận hành nhất định. Một số khái niệm Mục đích của việc đánh giá độ tin cậy hệ thống điện là ƣớc tính khả năng của HTĐ làm việc đáp ứng mục tiêu cơ bản của mỗi hệ thống điện là đáp ứng yêu cầu phụ tải và cung cấp điện năng đến khách hàng một cách liên tục, chất lƣợng cao với chi phí thấp nhất có thể. Một hệ thống quy mô nhỏ ƣớc lƣợng độ tin cậy thông qua kinh nghiệm và chính sách.
Tuy nhiên, hệ thống điện quy mô lớn thì rất phức tạp, thông thƣờng nhiều kỹ thuật phân tích chặt chẽ hơn đƣợc áp dụng. Các khái niệm về độ tin cậy thì có nghĩa rất rộng nhƣ đƣợc mô tả nhƣ sau: 1. Phần tử tính toán độ tin cậy Trong nghiên cứu đánh giá độ tin cậy, hệ thống cung cấp điện đƣợc chia thành các phần tử tính toán. Các phần tử này có thể đƣợc chọn tùy ý, ví dụ nhƣ hệ thống truyền tải có thể là một phần tử, nhƣng một rơle có thể bao gồm nhiều phần tử.
Mỗi phần tử có thể có ít nhất hai trạng thái: Làm việc và không làm việc. Phần tử trong hệ thống điện là phần tử có phục hồi, nghĩa là sau khi bị hỏng sẽ đƣợc sửa chữa và đƣa trở lại làm việc, vì vậy sẽ có hai sự kiện nhƣ sau: - Sự cố hƣ hỏng: Phần tử chuyển từ trạng thái làm việc sang trạng thái không làm việc. - Phục hồi hƣ hỏng: Phần tử chuyển từ trạng thái không làm việc sang trạng thái làm việc [3].1: Hệ thống điện tiêu biểu 1. Hỏng hóc Sự cố trạng thái của một phần tử hay hệ thống mà nó không hoạt động nhƣ mong muốn.
Cắt phân tử - Cắt phân tử là sự cắt bỏ khỏi hệ thống phần tử không có khả năng vận hành đúng chức năng do một vài sự cố liên quan trực tiếp với phần tử đó. - Cắt cƣỡng bức: gây ra do các điều kiện khẩn cấp liên quan trực tiếp đến phần tử mà đòi hỏi phần tử này phải đƣợc cách ly khỏi hệ thống ngay lập tức, hoặc tự động cắt ngay khi các thao tác đóng cắt nhầm của con ngƣời hay thiết bị. - Cắt phần tử theo lịch trình: đƣợc thực hiện khi một phần tử đƣợc chủ định các ly khỏi hệ thống tại một thời điểm đƣợc lựa chọn, thƣờng là cho mục đích xây dựng, bảo trì hay sửa chữa. - Cắt phần tử từng phần: trạng thái của một phần tử khi khả năng vận hành theo đúng chức năng của phân tử bị giảm xuống nhƣng không hoàn toàn bị loại trừ.
- Cắt cƣỡng bức ngắn hạn: phần tử bị cắt ra nhƣng đƣợc tự động đóng trở lại bằng thiết bị tự đóng lại. - Cắt cƣỡng bức kéo dài: Phần tử bị cắt ra chỉ đóng lại sau khi sửa chữa hoặc thay thế. Ngƣờng cung cấp điện Sự mất điện cho một hoặc nhiều hộ tiêu thụ hay các khu vực khác nhau là hậu quả của sự cắt một hay nhiều phần tử, phụ thuộc vào cấu trúc hệ thống. 15 Quan hệ giữa các phần tử, hệ thống và khách hàng trong lĩnh vực đánh giá độ tin cậy đƣợc mô tả bởi sơ đồ khối hình 2.
TốtTô Ngừng cung cấp Mất điện khách hàng 1 Cắt cƣỡng bức điện cƣỡng bức Hỏng hóc Ngừng cung cấp Mất điện khách hàng 2 Ngƣời vận Cắt theo lịch điện cƣỡng bức hành Ngừng cung cấp Mất điện khách hàng 3 Ngƣời vận Cắt từng phần điện cƣỡng bức hành Phần tử k Mất điện khách hàng n Trạng thái phần tử Trạng thái hệ thống Trạng thái của khách hàng Hình 2.2: Sơ đồ khối đánh giá độ tin cậy 1. Các chỉ tiêu độ tin cậy - Chỉ tiêu tần suất ngừng cung cấp điện hệ thống. - Chỉ tiêu tần xuất ngừng cung cấp điện khách hàng. - Chỉ tiêu cắt tải.
- Chỉ tiêu cắt xén khách hàng. - Chỉ tiêu thời gian ngừng cung cấp khách hàng. Cơ sở đánh giá độ tin cậy trong hệ thống điện Đánh giá độ tin cậy của hệ thống điện là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng không chỉ cho quản lý, vận hành hệ thống điện. Chỉ số độ tin cậy hệ thống điện có thể đƣợc chia làm hai loại.
Thứ nhất là chỉ số độ tin cậy xác định (deterministic reliability indices) của HTĐ nhƣ ATC (Arrival Transfer Capacity), BRR (Bus Reserve Rate), v.v… 16 Thứ hai là chỉ số độ tin cậy xác suất ngẫu nhiên (probabilistic reliability indices) nhƣ LOLP, LOLE, EENS, v.v…Phƣơng pháp đánh giá độ tin cậy xác suất ngẫu nhiên có nhiều ƣu điểm hơn vì nó liên quan đến sự cố hỏng hóc của thiết bị điện, sự thay đổi của thời tiết, v.v…Vì vậy, phƣơng pháp này đƣợc lựa chọn sử dụng trong luận văn này. Hệ thống điện là một hệ thống rất phức tạp và có sự tham gia của rất nhiều phần tử với những trạng thái vật lý khác nhau. Chức năng cơ bản của hệ thống điện là sản xuất điện năng (hệ thống nguồn), vận chuyển điện năng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng (hệ thống truyền tải) và hệ thống phân phối. Do đó, hệ thống điện có thể đƣợc chia thành ba cấp độ theo ba chức năng cơ bản của nó.
Các cấp độ này rất thuận tiện cho việc phân tích, tính toán trong vận hành hệ thống nguồn, hệ thống truyền tải, v.v… Cấp độ I (HLI) chỉ tập trung hệ thống nguồn điện. Đặc tính của cấp độ I là giả định hệ thống truyền tải có công suất không giới hạn và đặc tính vật lý là lý tƣởng. Cấp độ II chú ý cả hệ thống nguồn điện và hệ thống truyền tải. Cấp độ III chú ý đến toàn bộ hệ thống điện nhƣ trình bày ở Hình 2.
Do đó, thông thƣờng đánh giá độ tin cậy dựa theo các cấp độ này: HL1 Hệ thống nguồn HL2 Hệ thống truyền tải Hệ thống phân HL3 phối Hình 2. Phân loại hệ thống điện theo cấp độ 17 3. Những thuật ngữ thƣờng dùng trong đánh giá độ tin cậy - Độ tin cậy: Là xác suất để hệ thống (hay phần tử) hoàn thành một chức năng nhất định tại một khoảng thời gian nhất định trong một điều kiện vận hành nhất định. - Ngẫu nhiên: là hƣ hỏng hoặc cắt phần tử của HTĐ nhƣ máy phát, dây truyền tải, máy cắt, dao cách ly hoặc các phần tử khác.
Ngẫu nhiêu có thể bao gồm nhiều phần tử và có thể dẫn đến cắt đồng loạt nhiều phần tử.