Chương 1: Khái lược về tác giả nhà nho hành đạo và loại thơ ngôn chí Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. Chương 2: Đặc điểm thơ ngôn chívà sự thay đổi tư tưởng của nhà nho hành đạo nửa sau thế kỉ XIX Chương 3: Một số phương thức diễn đạt của thơ ngôn chí nửa sau thế kỉ XIX 4 Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ TÁC GIẢ NHÀ NHO HÀNH ĐẠO VÀ LOẠI THƠ NGÔN CHÍ VIỆT NAMNỬA SAU THẾ KỶ XIX 1. Một số vấn đề lí thuyết về tác giả nhà nho hành đạo 1. Quan niệm và đặc điểm Nhà nho hành đạo là mẫu hình người trí thức phong kiến chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo.
Hệ tư tưởng này đãảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, văn hóa - chính trị của Việt Nam và văn học trung đại Việt Nam.Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương trong bài “Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam” đã đánh giá:“Trong lịch sử Việt Nam cho đến tận đầu thế kỷ XX, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà Nho. Tinh thần văn hóa Nho giáo thấm sâu vào thành truyền thống, thậm chí thành bản sắc của nền văn hóa dân tộc. Về mặt diện mạo tổng thể, nền văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX là nền văn hóa Nho giáo”[93]. Còn nhà nghiên cứu Trần Đình ượu đã lý giải ảnh hưởng của ho giáo đối với văn học Việt Nam trung cận đại một cách hệ thống và sâu sắc trong công trình “Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại(1995).
Có thể thấy, tư tưởng ho giáo đã tạo nên những thế hệ nhà nho nói chung và loại hình tác giả nhà nho hành đạo nói riêng trong việc tiếp thu tư tưởng lập thân, lập chí, lựa chọn con đường hành đạo, nhập thế cũng như những cảm hứng tư tưởng chủ đạo trong sáng tác thơ văn thời trung đại Việt Nam. Nho giáo là một học thuyết được sáng lập bởi Khổng Tử ó được hình thành và trải qua lịch sử vận động, phát triển lâu dài ở Trung Quốc từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc đến đời Hán cho đến đời Tống (thế k thứ XII) và ảnh hưởng mãi về sau này. Nho giáo khác với Phật giáo và Đạo giáo ở chỗ hướng con người đến đời sống thực tại và cải tạo xã hội theo mệnh đề “Đạo” và “Đức”, đức trị, lễ trị, văn trị, nhân nghĩa, khắc k phục lễ v v…xây dựng xã hội đại đồng.Những nguyên lý cơ bản đó đã trở thành nền tảng tư tưởng cho các triều đại Việt Nam tổ chức hệ thống cai trị và chi phối đến chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán mang sắc thái Việt Nam. Hầu hết nho sĩ hành đạo là những người không ngừng mơ ước đến một xã hội lý tưởng đạo 5 đức theo mô hình vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn.
“Đạo” là một phạm trù của Nho giáo nghiêng về triết học xã hội, đặt con người trong mối quan hệ với gia đình, quan hệ xã hội và quan hệ nhà nước. Muốn giáo hóa con người trước hết phải “tu thân” sau đó mới “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Đó là sự rèn luyện, tu dưỡng, sửa mình theo một chuẩn mực đạo đức, làm cho lương tâm trong sáng và không trái với lễ nghi phép tắc, giữ vững đạo trung thứ. Qua tu thân con người có thể đạt đến “ngũ luân” ứng với “ngũ thường” để ứng xử thích đáng các mối quan hệ xã hội.
Tu thân phải đạt được “nhân” và “đức”.Nho giáo cũng đề cao “tam cương”.Đó là ba mối quan hệ: quân thần, phụ tử và phu phụ, trong đó quan hệ vua tôi giống với quan hệ cha con, mô hình đất nước cũng như gia đình. Muốn giữ vững “tam cương” thì phải rèn luyện “ngũ thường”. gũ thường là năm cái đức cần thiết, hằng thường của con người. Đó là “Nhân”, “Lễ”, “ ghĩa”, “Trí”, “Tín”.
rong đó “ hân” là yếu tố quan trọng bậc nhất trong tư tưởng Nho giáo. Nhân ở đây chính là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người,là yêu người và coi người như bản thân mình. Khổng Tử nói: “Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?”(sách Luận ngữ).Chính những tư tưởngđó của ho giáo đã chi phối đến tư tưởng của các tầng lớp nhà nho. Theo Trần Trọng Kim: “Quân tử là người công chính biết rõ cái đạo của trời đất mà hành động rất hợp với đạo làm người.
Bởi vậy Nho giáo lấy quân tử là bậc người lý tưởng hoàn toàn làm tiêu biểu”[38, tr. Đó cũng chính là kim chỉ nam cho hành động của người quân tử. hư vậy Nho giáo với một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội, về con người như thế đã ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà nho. ác nhà nho Việt Nam có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị đất nước của xã hội phong kiến.
Họ đã xuất hiện trong một bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam khá phức tạp và kéo dài trong khoảng từ cuối thế k XIII đến thế k XIX. Theo thời điểm lịch sử, tư tưởng của nhà nho có sự vận động phân hóa.Từ sau thời kỳ Bắc thuộc, khi Ngô Quyền giành được độc lập dân tộc từ phương ắc, theo Trần Đình ượu thì đã có “một sự chuyển giao thực sự giữa Nho giáo và Phật giáo” ang đến thế k XIV, nho giáo ngày càng có vai trò quan trọng bởi mô hình xã hội của ho giáo đưa ra phù hợp với phương thức cai trị xã hội. Từ nhà Trần sang đến nhà Hồ thì rất nhiều 6 nho sĩ trở thành đại thần đem tài và đức ra phò vua gi p nước ho giáo phát triển đến đỉnh cao và cực thịnh ở thời nhà Lê. Sang thế k XVI, do đất nước chia nước chia năm xẻ bảy, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, tình trạng“lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh và tình trạng Trịnh - Nguyễn phân tranh, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng.Vì thế, bên cạnh nhà nho hành đạo là sự xuất hiện của nhà nho ẩn dật Đến thế k XVIII, nhà nho tài tử xuất hiện như một kiểu nhà nho phi chính thống.
Sang thế k XIX, ho giáo được nhà Nguyễn ra sức đề cao nho giáo, phục hồi vị thế độc tôn của nó. Nhà nho hành đạo lại xuất hiện nổi bật trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt. Và theo đólàsự xuất hiện rất nhiều những danh nho có cống hiến lớn cho đất nước. Trần Trọng Kim khi nói về Nho giáo ở Việt am đã hệ thống những nhân vật nho học lớn từ thời nhà Lý trở đi và ông đánh giá: “nhờ có Nho học đã sản xuất được bao nhiêu người trung nghĩa hiền lương và người có tài cán, có tiết tháo đủ làm vẻ vang cho nước nhà” [38, tr.
rên cơ sở loại hình tác giả văn học thời trung đại Việt Nam, khi tìm hiểu về kiểu tác giả nhà nho với tư cách những loại hình chủ thể thẩm mỹđược hình thành như những sản phẩm xã hội, lịch sử, văn hóa cụ thểcủa xã hội phong kiến, chúng ta có thể nhìn nhận ở những điểm chung dưới các góc độ từ quá trình hình thành,phát triển,hệ tư tưởng chịu ảnh hưởng, cách nhìn và cách lựa chọn thái độ sống, tư thế ứng xử, quan điểm thẩm mĩ,xu hướng nghệ thuật, kiểu nhân cách, sáng tác và đóng góp cho văn học dân tộc.Theo các nhà nghiên cứu về loại hình tác giả nhà nho văn học trung đại Việt Nam, ta thấy có ba mẫu hình nhà nho: nhà nho hành đạo, nhà nho tài tử, nhà nho ẩn dật. Đây là ba mẫu hình nhà nho đã hình thành và tồn tại trong thực tiễn lịch sử trung cận đại Việt am và để lại dấu ấn đậm nét trong thơ ca trung đại. Nhà nho hành đạo thường xuất hiện trong hoàn cảnh khi vua sáng tôi hiền và họ ra gi p nước, gi p đời. Về cơ bản, họ được thể chế hóa thành bộ máy quan liêu của triều đình chuyên chế với những vị trí chủ chốt trong bộ máy chính trị và họ sẵn sàng, dấn thân nhập cuộc đểnỗ lực thực hiện lý tưởng Nho giáo vào quản lý xã hội.So với loại hình nhà nho ẩn dật thì cả hai loại hình tác giả này có những đặc điểm tương đồng như nguồn gốc, học vấn, quy trình đào tạo, hệ thống cơ bản trong thế giới quan, nhân sinh quan của hệ tư tưởng Nho giáo và sinh tồn trong môi trường văn hoá án học.
Tuy nhiên, ta thấy “liên tục xuất hiện những người với thực tế cai trị của triều đình, bày tỏ nguyện vọng và dấn 7 thêm một bước nữa, là thực sự cáo quan về ẩn dật”[91, tr 37] và tìm ý nghĩa cuộc đời ngoài cả ho giáo như Phật giáo hay học thuyết Lão Trang.So với nhànho tài tử, theo nhà nghiên cứu Hà Ngọc òa thì “nhà nho hành đạo là người luôn thực hiện lý tưởng “Thượng trí quân, hạ trạch dân” (Trên thì giúp vua, dưới thì chăm dân) còn các nhà nho tài tử khao khát được thể hiện tài năng…Thoát ra khỏi lực hút về tâm của Nho giáo, điều bận tâm nhất của các chàng trai ưu tú này không phải là những giá trị đạo đức mà chính là Tài và Tình”. Nhà nghiên cứu Đoàn ê iang đã so sánh các phẩm chất giữa người quân tử và người tài tử ở các phương diện dường như có tính chất đối lập: “Tâm (tấm lòng ưu ái) và Tài (tài hoa); Chí (Tiên ưu chí,chí lo đời, chí nam nhi, chí công danh) và Tình (ái tình); Đạo (đạo đức, đạo cương thường,đạo nghĩa) và Tính (Tính dục); Nghĩa (Nghĩa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè, đất nước) và Du (Thú giang hồ, phong lưu, hành lạc); cuối cùng là Khí (Chí khí, khí cốt cứng cỏi) và Mỹ (mỹ cảnh, mỹ nhân)”[95].Nhà nho hành đạo tìm thấy ý nghĩa và lẽ sống ở lý tưởng của Nho giáo. Họ sẵn sàng dấn thân để thực hiện lí tưởng “trí quân trạch dân” và mong ước xây dựng một xã hội mẫu mực theo mô hình Nghiêu, Thuấn. Họ đề cao “đạo” và “chí”, ch trọngđến vấn đề “tu thân”, “nhân”, “lễ” “nghĩa”, “trí”, “tín”, “tam cương ngũ thường”.
Nhà nho hành đạo đặt mình vào các mối quan hệ luân thường và quan hệ chính trị xã hội. Họ kiềm tỏa mình trong lễ giáo chính thống trong quan hệ với vua tôi, trong quan hệ với nhân dân và tinh thần tự nhiệm với đất nước.Vì vậy,việc tu thân và lập chí được đề cao. Lập chí có một mối quan hệ mật thiết với các phạm trù khác của Nho giáo.