Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi đà điểu (Struthio camelus) là hướng đi mới trong ngành chăn nuôi gia cầm đặc sản nhờ đặc tính sinh học thích ứng rộng, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, tính ăn tạp và hiệu quả chuyển hóa dinh dưỡng cao. Về mặt thương phẩm, thịt đà điểu là loại thịt đỏ có chất lượng dinh dưỡng cao, cấu trúc sợi cơ tương tự thịt bò nhưng hầu như không có mỡ dắt và gân, hàm lượng protein cao trong khi chỉ số cholesterol thấp. Bên cạnh sản phẩm thịt, các phụ phẩm như da, lông và vỏ trứng đều có giá trị kinh tế đáng kể. Trên thị trường quốc tế, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ đà điểu duy trì ở mức cao; riêng tại thị trường châu Âu, nhu cầu thịt thương phẩm cao gấp 3 đến 4 lần năng lực cung cấp.
Tại Việt Nam, nghiên cứu chăn nuôi đà điểu bắt đầu từ năm 1996 khi Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương (thuộc Viện Chăn nuôi) tiếp nhận trứng đà điểu châu Phi từ Zimbabwe để ấp nở thử nghiệm. Đến năm 1998, các dòng đà điểu Blue, Black và Aust từ Úc tiếp tục được nhập nội nhằm xây dựng đàn giống và khảo nghiệm khả năng thích nghi tại nhiều vùng sinh thái. Nhằm khai thác tiềm năng đất đồi bãi trồng cỏ tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc, trong hai năm 2007 và 2008, Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương đã chuyển giao 110 con đà điểu nuôi sinh sản và nuôi thịt thương phẩm tại hai huyện Ngân Sơn và Bạch Thông thuộc tỉnh Bắc Kạn. Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao nội địa vùng Đông Bắc, kinh tế chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao nhưng có khí hậu và quỹ đất phù hợp cho việc phát triển các giống vật nuôi mới.
Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá sự sinh trưởng, khả năng sản xuất thịt và chất lượng thịt của đàn đà điểu nuôi thịt trong giai đoạn từ 7 đến 12 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm nhân rộng mô hình chăn nuôi đà điểu thương phẩm trong quy mô trang trại và nông hộ đạt hiệu quả kinh tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn đà điểu nuôi thịt giai đoạn từ 7 đến 12 tháng tuổi.
- Địa điểm nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi đà điểu của Công ty TNHH Hoàng Giang tại xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận sinh học chăn nuôi và quy luật sinh trưởng của gia cầm lớn:
- Phân loại học động vật: Đà điểu thuộc lớp Chim (Aves), bộ Struthioniformes, phân bộ Struthiones, họ Struthionidae. Đây là loài chim chạy cỡ lớn, cơ quan tiếp đất gồm hai ngón chân khỏe, có khả năng thích nghi nhiệt độ môi trường từ -30°C đến 40°C.
- Quy luật sinh trưởng: Theo định nghĩa của Mozan (1977, dẫn theo Chambers, 1990), sinh trưởng là quá trình tích lũy protein và tăng trưởng kích thước, khối lượng của các bộ phận cơ thể (thịt, xương, da, mỡ) diễn ra theo trình tự sinh lý từ hệ tiêu hóa, nội tiết, hệ thống xương đến hệ cơ và mô mỡ. Quá trình này tuân thủ các quy luật sinh trưởng theo giai đoạn, không đồng đều và có chu kỳ.
- Nhu cầu dinh dưỡng: Tác giả áp dụng định mức khẩu phần của Nguyễn Thị Hòa (2006) và Đặng Quang Huy (2001) cho đà điểu giai đoạn 7 - 12 tháng tuổi, gồm: hàm lượng protein thô 14%, năng lượng trao đổi (ME) 2400 kcal/kg thức ăn, Lysine 0,81%, Methionine 0,24%, Canxi 1,0 - 1,2%, Photpho 0,60%, Vitamin A 12.500 UI, Vitamin D 3.000 UI và Vitamin E 40 UI.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu:
- Phương pháp nuôi dưỡng: Đà điểu được nuôi nhốt kết hợp sân chơi có rào lưới B40. Khẩu phần ăn chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi sử dụng 5,1 - 5,3 kg thức ăn tinh và 4,0 - 4,2 kg thức ăn xanh/con/ngày; giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi sử dụng 5,3 - 5,5 kg thức ăn tinh và 4,3 - 4,5 kg thức ăn xanh/con/ngày. Thức ăn tinh dạng viên hoặc ngô nghiền (đơn giá 6.500 đồng/kg), thức ăn xanh gồm cỏ voi, rau xanh (đơn giá 2.000 đồng/kg).
- Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng: Cân từng cá thể theo số nhẫn đeo chân vào lúc 8 - 9 giờ sáng ngày đầu tháng (trước khi cho ăn) bằng cân đồng hồ có độ chính xác 100g.
- Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng sống cơ thể qua các mốc 7, 9 và 12 tháng tuổi ($kg$).
- Sinh trưởng tuyệt đối ($A$): Tính bằng công thức $A = \frac{P_2 - P_1}{T_2 - T_1}$ ($g/con/ng\grave{a}y$), trong đó $P_1, P_2$ là khối lượng ở hai lần cân liên tiếp, $T_1, T_2$ là khoảng cách thời gian giữa hai lần cân.
- Sinh trưởng tương đối ($R$): Tính theo công thức T. Brody đánh giá tỷ lệ phần trăm gia tăng khối lượng.
- Tiêu tốn thức ăn (FCR): Xác định bằng lượng thức ăn thực tế ăn vào chia cho lượng tăng khối lượng cơ thể trong kỳ khảo sát ($kg$ thức ăn/$kg$ tăng khối lượng).
- Phương pháp mổ khảo sát đánh giá năng suất thịt: Chọn ngẫu nhiên 6 cá thể ở 12 tháng tuổi (3 con trống, 3 con mái) để mổ khảo sát theo quy trình chăn nuôi gia cầm, xác định khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ, thịt tinh, thịt đùi, xương, mỡ, da, lông và máu so với khối lượng sống trước khi giết mổ.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel theo các thuật toán thống kê sinh vật học cho dung lượng mẫu nhỏ ($n < 30$), bao gồm số trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_x$), sai số của số trung bình ($m_x$) và hệ số biến dị ($Cv%$).
Nội dung chính theo từng phần
Bố cục của khóa luận gồm hai phần chính: Phần 1 phản ánh hoạt động điều tra cơ sở và phục vụ sản xuất thực tế tại trang trại; Phần 2 trình bày kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học.
Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất
Tác giả tiến hành điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông. Xã có tổng diện tích tự nhiên 3.323,59 ha, địa hình đồi núi dốc 26 - 30 độ, đất dốc tụ và feralit chiếm phần lớn; dân số gồm 487 hộ với 2.004 nhân khẩu (dân tộc Dao chiếm 45,99%, Tày chiếm 41,07%, Kinh chiếm 6,16%), trong đó 92,57% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo là 17,66% (86 hộ). Hệ thống giao thông liên xã và kênh mương thủy lợi nội đồng còn thiếu kiên cố hóa.
Trang trại đà điểu xã Mỹ Thanh trực thuộc Công ty TNHH Hoàng Giang, được xây dựng từ năm 2009 với diện tích mặt bằng 4 ha. Cơ cấu nhân sự gồm 7 người (1 trại trưởng, 1 kỹ thuật viên, 1 lái xe và 4 công nhân). Trang trại có hệ thống cơ sở vật chất chuyên biệt gồm văn phòng, nhà ở công nhân, kho thức ăn, phòng ấp - nở (trang bị 2 máy ấp, 2 máy nở), chuồng nuôi đà điểu hậu bị, chuồng sinh sản và khu giết mổ, đông lạnh. Quy mô tổng đàn phát triển qua các năm: năm 2011 có 76 con sinh sản; năm 2012 đạt 160 con; đến năm 2013 đạt 280 con (gồm 76 con sinh sản và 204 con nuôi thịt, hậu bị).
Trong công tác thú y và chăm sóc nuôi dưỡng, tác giả đã tham gia thực hiện các quy trình:
- Chuẩn bị chuồng trại: Để trống chuồng 10 - 15 ngày, tẩy uế quét vôi tường vách, phun tiêu độc bằng dung dịch Formol 2%, cọ rửa và phơi nắng dụng cụ máng ăn, máng uống.
- Công tác phòng và trị bệnh:
- Bệnh Newcastle: Tiêm phòng vaccine định kỳ, chẩn đoán qua triệu chứng tiêu chảy nặng, khó thở, bệnh tích xuất huyết dạ dày tuyến và niêm mạc ruột non; theo dõi nồng độ kháng thể HI (đạt mức 4log2 - 10log2 là bình thường; trên 11log2 là biểu hiện nhiễm bệnh); xử lý cách ly và can thiệp bằng vaccine nhược độc chịu nhiệt H1 cho các ô chuồng chưa có triệu chứng.
- Bệnh do vi nấm: Nấm phổi (Aspergillosis) do môi trường đệm lót ẩm mốc, điều trị bằng Nystatin 25 - 30 mg/kg thể trọng/ngày (trường hợp nặng dùng 50 mg/kg/ngày); nấm ngoài da kẽ ngón chân do nền chuồng ẩm ướt (bôi dung dịch Nirozal 2 lần/ngày); nấm đường tiêu hóa (Candidiasis) do dùng kháng sinh kéo dài, điều trị bằng Nystatin 20.000 đơn vị/kg hoặc trộn thức ăn liều 220 g/tấn kết hợp sunfat đồng axit hóa 0,5 g/lít nước uống.
- Hội chứng rối loạn trao đổi khoáng: Thường gặp ở giai đoạn 2 - 4 tháng tuổi do mất cân đối Canxi, Photpho và thiếu hụt Vitamin D2, dẫn đến biến dạng khớp và cong vẹo xương chân; khắc phục bằng bổ sung khoáng, vitamin kết hợp tắm nắng và làm nẹp cố định cơ học.
- Xử lý chấn thương cơ học: Tai nạn rách da chân, da cổ dài trên 10 cm do rào lưới hoặc hoảng sợ chạy dồn đống; xử lý bằng gây tê Novocain tại chỗ, sát trùng, rắc bột kháng sinh Streptomycin 1g, khâu vết thương một mối và tiêm bắp Penicillin liều 1 triệu UI/50 kg thể trọng.
- Hiện tượng ăn vật lạ: Do tính tò mò gặm nhấm que gậy, túi nilon, sỏi đá gây tắc ruột hoặc sa trực tràng; điều trị bằng dung dịch thụt rửa Parapin, Metamuxyl, Tympanyl, truyền điện giải và bón thức ăn mềm.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất thực tế được tác giả tổng hợp tại bảng số liệu sau:
| Nội dung công việc |
Đơn vị tính |
Số lượng thực hiện |
Số lượng an toàn, khỏi bệnh |
Tỷ lệ thành công (%) |
| Tiêm vaccine phòng bệnh Newcastle cho đà điểu |
Con |
250 |
250 |
100,00 |
| Điều trị hiện tượng ăn dị vật đường tiêu hóa |
Con |
5 |
4 |
80,00 |
| Phẫu thuật, điều trị chấn thương ngoại khoa |
Con |
7 |
5 |
71,40 |
| Vệ sinh, phun tiêu độc khử trùng chuồng nuôi |
Ô chuồng |
34 |
34 |
100,00 |
Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Chuyên đề tập trung theo dõi các chỉ tiêu kỹ thuật của đàn đà điểu nuôi thịt từ 7 đến 12 tháng tuổi:
- Sức kháng bệnh và tỷ lệ nuôi sống: Tác giả theo dõi đàn thực nghiệm qua các tháng tuổi (tháng 7: 3 trống, 7 mái; tháng 8: 4 trống, 6 mái; tháng 9: 4 trống, 6 mái; tháng 10: 5 trống, 5 mái; tháng 11: 2 trống, 8 mái; tháng 12: 3 trống, 7 mái). Kết quả ghi nhận tỷ lệ nuôi sống đạt 100% trong toàn bộ chu kỳ 6 tháng theo dõi, không có cá thể nào bị chết hay phải loại thải.
- Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng sống của đàn đà điểu tăng đều qua các giai đoạn. Khối lượng con trống luôn cao hơn con mái ở mọi thời điểm cân đo:
- Lúc 7 tháng tuổi: Trung bình đạt 66,93 ± 0,37 kg (trống: 68,01 ± 0,37 kg; mái: 65,86 ± 0,37 kg; hệ số biến dị $Cv = 3,50%$).
- Lúc 9 tháng tuổi: Trung bình đạt 83,55 ± 0,39 kg (trống: 85,21 ± 0,48 kg; mái: 81,89 ± 0,30 kg; $Cv = 3,82%$), tăng thêm 16,62 kg so với lúc 7 tháng tuổi.
- Lúc 12 tháng tuổi: Trung bình đạt 102,73 ± 0,48 kg (trống: 105,72 ± 0,46 kg; mái: 99,75 ± 0,50 kg; $Cv = 4,87%$), tăng thêm 19,16 kg so với lúc 9 tháng tuổi.
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối: Đàn đà điểu thể hiện tốc độ tăng trọng cao ở giai đoạn cuối chu kỳ nuôi thịt:
- Giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình đạt 276,92 ± 2,65 g/con/ngày (con trống đạt 286,67 ± 2,59 g/con/ngày; con mái đạt 267,17 ± 2,71 g/con/ngày).
- Giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình đạt 337,24 ± 2,54 g/con/ngày (con trống đạt 341,83 ± 1,94 g/con/ngày; con mái đạt 333,25 ± 3,14 g/con/ngày). Tốc độ tăng trọng ở giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi cao hơn giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi là 60,32 g/con/ngày.
- Sinh trưởng tương đối: Ngược lại với sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối có xu hướng giảm dần theo tuổi sinh học, phù hợp với quy luật phát triển gia cầm: giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi đạt mức 22,08 ± 0,21% (trống: 22,45%; mái: 21,71%), sang giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi giảm xuống còn 20,58 ± 0,18% (trống: 21,50%; mái: 19,66%).
- Tiêu tốn và chi phí thức ăn:
- Giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi: Để tăng 1 kg thể trọng cần 3,08 kg thức ăn tinh và 3,09 kg thức ăn xanh, tương ứng chi phí thức ăn là 26.205 đồng/kg tăng khối lượng (thức ăn tinh: 20.025 đồng; thức ăn xanh: 6.180 đồng).
- Giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi: Tiêu tốn thức ăn tăng lên mức 3,61 kg thức ăn tinh và 3,55 kg thức ăn xanh/kg tăng khối lượng, chi phí thức ăn tăng lên 30.565 đồng/kg tăng khối lượng (thức ăn tinh: 23.465 đồng; thức ăn xanh: 7.100 đồng).
- Tính lũy kế cộng dồn đến thời điểm 12 tháng tuổi: Mức tiêu tốn thức ăn bình quân là 3,39 kg thức ăn tinh và 3,35 kg thức ăn xanh cho mỗi kg tăng khối lượng sống.
Bảng tổng hợp kết quả mổ khảo sát đánh giá năng suất thịt lúc 12 tháng tuổi ($n = 6$, gồm 3 con trống và 3 con mái):
| Chỉ tiêu khảo nghiệm |
Đơn vị tính |
Con trống ($n=3$) |
Con mái ($n=3$) |
Trung bình cộng chung ($n=6$) |
Tỷ lệ so với khối lượng sống (%) |
| Khối lượng sống trước giết mổ |
kg |
105,67 ± 4,02 |
98,17 ± 2,89 |
101,92 ± 3,45 |
100,00 |
| Khối lượng thịt xẻ |
kg |
76,58 ± 3,18 |
70,90 ± 2,31 |
73,74 ± 2,74 |
72,35 |
| Khối lượng thịt tinh |
kg |
35,03 ± 2,33 |
32,21 ± 2,14 |
33,62 ± 2,23 |
32,99 |
| Khối lượng thịt đùi |
kg |
31,47 ± 1,04 |
28,33 ± 0,87 |
29,90 ± 0,95 |
29,34 |
| Khối lượng xương |
kg |
19,89 ± 0,89 |
17,57 ± 0,73 |
18,73 ± 0,81 |
18,37 |
| Khối lượng mỡ |
kg |
16,97 ± 0,92 |
15,53 ± 0,81 |
16,25 ± 0,86 |
15,94 |
| Khối lượng da |
kg |
6,20 ± 0,26 |
5,70 ± 0,10 |
5,95 ± 0,18 |
5,84 |
| Khối lượng máu |
kg |
3,90 ± 0,35 |
3,43 ± 0,29 |
3,67 ± 0,32 |
3,60 |
| Khối lượng lông |
kg |
1,93 ± 0,18 |
1,90 ± 0,15 |
1,92 ± 0,16 |
1,88 |
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về khả năng sinh trưởng và năng suất thân thịt của giống đà điểu nuôi thịt thương phẩm tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn:
- Tỷ lệ nuôi sống đạt 100% trong toàn bộ giai đoạn từ 7 đến 12 tháng tuổi. Khối lượng xuất chuồng lúc 12 tháng tuổi trung bình đạt 101,92 ± 3,45 kg/con (con trống đạt 105,67 kg, con mái đạt 98,17 kg).
- Hiệu suất cho thịt ở mức cao: tỷ lệ thịt xẻ đạt 72,35% (73,74 kg), tỷ lệ thịt tinh đạt 32,99% (33,62 kg), trong đó thịt đùi chiếm phần lớn khối lượng thịt tinh với 29,34% (29,90 kg). Các thành phần phụ phẩm gồm xương chiếm 18,37%, mỡ chiếm 15,94%, da chiếm 5,84%, máu chiếm 3,60% và lông chiếm 1,88%. Phân tích thành phần thịt cho thấy hàm lượng protein đạt 20,85%, khoáng tổng số đạt 1,33% và tỷ lệ mỡ thô là 0,94%.
- Định mức kinh tế - kỹ thuật: Mức tiêu tốn thức ăn tinh và thức ăn xanh để tạo ra 1 kg tăng khối lượng sống trong giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi lần lượt là 3,61 kg và 3,55 kg; chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng khối lượng ở giai đoạn này là 30.565 đồng.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, công trình đã xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm về các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối và thành phần thân thịt của đà điểu nuôi tại vùng miền núi Đông Bắc. Kết quả này bổ sung và khẳng định khả năng thích nghi tốt của đà điểu với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng Bắc Kạn, tương đương với các kết quả khảo nghiệm trước đây tại Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương ở vùng đồng bằng và trung du.
Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:
- Trang trại cần đầu tư hoàn thiện trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, chuẩn hóa dụng cụ chăn nuôi và tủ thuốc thú y để đáp ứng yêu cầu phòng trị bệnh chuyên sâu.
- Mở rộng quy mô chăn nuôi của trang trại theo hướng kết hợp sản xuất kinh doanh với khảo nghiệm khoa học, chủ động cung cấp con giống chất lượng và sản phẩm thịt sạch cho thị trường.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật nuôi và đẩy mạnh tiêm phòng vaccine cho đàn vật nuôi trong vùng vành đai tiếp giáp nhằm đảm bảo an toàn sinh học cho trại đà điểu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định:
- Thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở chỉ kéo dài 6 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014) nên nghiên cứu mới chỉ theo dõi được nửa sau của chu kỳ nuôi thịt (từ 7 đến 12 tháng tuổi), chưa bao quát được toàn bộ quá trình phát triển từ sơ sinh đến khi giết thịt.
- Quy mô mẫu nghiên cứu còn nhỏ (mẫu theo dõi sinh trưởng gồm 20 cá thể, mẫu mổ khảo sát thân thịt gồm 6 cá thể), do đó các số liệu thu được mới dừng ở mức độ đại diện cho đàn nuôi tại cơ sở nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện:
- Bố trí thí nghiệm theo dõi liên tục toàn bộ chu kỳ sinh trưởng của đà điểu từ sơ sinh (1 ngày tuổi) đến 12 tháng tuổi trên dung lượng mẫu lớn hơn.
- Nghiên cứu sâu hơn về các công thức khẩu phần thức ăn tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhằm hạ thấp chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Bác sĩ thú y đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về động vật đặc sản hoặc quy trình thuần hóa gia cầm nhập nội.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên và các chủ trang trại đang triển khai hoặc có định hướng xây dựng mô hình chăn nuôi đà điểu thịt thương phẩm tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm: bảng định mức tiêu thụ thức ăn và chi phí trên từng kg tăng khối lượng; quy trình chẩn đoán, phòng ngừa và phác đồ điều trị các bệnh chuyên khoa ở đà điểu (Newcastle, nấm phổi, rối loạn khoáng xương, phẫu thuật rách da, xử lý dị vật tiêu hóa); quy trình mổ khảo sát và số liệu cấu trúc thân thịt lúc 12 tháng tuổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của đà điểu lúc 12 tháng tuổi đạt mức bao nhiêu?
Khối lượng cơ thể trung bình của đàn đà điểu lúc 12 tháng tuổi đạt 102,73 ± 0,48 kg (con trống đạt 105,72 kg, con mái đạt 99,75 kg). Trong giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình đạt 337,24 ± 2,54 g/con/ngày (con trống đạt 341,83 g/con/ngày, con mái đạt 333,25 g/con/ngày), cao hơn giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi 60,32 g/con/ngày.
2. Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng khối lượng sống giai đoạn 7 - 12 tháng tuổi được ghi nhận thế nào?
Ở giai đoạn 7 - 9 tháng tuổi, tiêu tốn 3,08 kg thức ăn tinh và 3,09 kg thức ăn xanh cho 1 kg tăng khối lượng, chi phí là 26.205 đồng. Ở giai đoạn 10 - 12 tháng tuổi, mức tiêu tốn là 3,61 kg thức ăn tinh và 3,55 kg thức ăn xanh, chi phí là 30.565 đồng. Tính cộng dồn toàn giai đoạn 7 - 12 tháng, mức tiêu tốn bình quân là 3,39 kg thức ăn tinh và 3,35 kg thức ăn xanh/kg tăng trọng.
3. Khả năng cho thịt của đà điểu mổ khảo sát lúc 12 tháng tuổi đạt các chỉ số cụ thể ra sao?
Qua mổ khảo sát 6 cá thể (3 trống, 3 mái) có khối lượng sống trung bình 101,92 kg, khối lượng thịt xẻ đạt 73,74 kg (chiếm tỷ lệ 72,35%), khối lượng thịt tinh đạt 33,62 kg (chiếm tỷ lệ 32,99%), riêng thịt đùi đạt 29,90 kg (chiếm 29,34%). Tỷ lệ xương chiếm 18,37%, tỷ lệ mỡ chiếm 15,94%, tỷ lệ da chiếm 5,84%, tỷ lệ máu chiếm 3,60% và lông chiếm 1,88%.
4. Những bệnh lý và tai nạn ngoại khoa nào thường xảy ra tại trang trại và kết quả điều trị ra sao?
Tại trang trại thường gặp bệnh Newcastle, nấm phổi (Aspergillosis), nấm ngoài da, hội chứng rối loạn chuyển hóa khoáng, hiện tượng nuốt dị vật gây tắc ruột và chấn thương rách da do chạy nhảy. Trong thời gian thực tập, tác giả đã tiêm phòng vaccine Newcastle an toàn cho 250 con (đạt 100%), điều trị khỏi 4/5 ca nuốt vật lạ (tỷ lệ 80%) và xử lý phẫu thuật khâu vết thương chấn thương thành công cho 5/7 con (tỷ lệ 71,40%).
5. Cơ cấu đàn của trang trại đà điểu xã Mỹ Thanh biến động như thế nào qua các năm 2011 - 2013?
Quy mô đàn phát triển nhanh: năm 2011 trang trại chỉ có 76 con đà điểu sinh sản (19 con trống, 57 con mái, không có đà điểu thịt); năm 2012 tổng đàn tăng lên 160 con (giữ nguyên 76 con sinh sản và nuôi thêm 84 con đà điểu thịt); đến năm 2013 tổng đàn đạt 280 con (gồm 76 con sinh sản và 204 con đà điểu nuôi thịt).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Dương đã phản ánh chi tiết điều kiện chăn nuôi thực tế và các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của đà điểu nuôi thịt từ 7 đến 12 tháng tuổi tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Đàn đà điểu thích nghi tốt với môi trường sinh thái địa phương với tỷ lệ sống đạt 100%, khối lượng xuất chuồng trung bình lúc 12 tháng tuổi đạt 101,92 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ đạt 72,35%. Công trình cung cấp hệ thống số liệu định lượng về khẩu phần, tiêu tốn thức ăn và phác đồ điều trị bệnh chuyên khoa, tạo nguồn dẫn liệu thực tiễn cho việc phát triển mô hình chăn nuôi đà điểu thương phẩm tại các tỉnh miền núi phía Bắc.