Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM 1.Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lƣợng Cảnh sát biển Việt Nam.Quan niệm về vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, để nhận biết được vi phạm pháp luật người ta dựa vào các dấu hiệu pháp lý cơ bản như: vi phạm pháp luật là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…Vi phạm pháp luật không những phải là hành vi nguy hiểm của các chủ thể pháp luật, mà hành vi đó còn phải trái với pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập. Có lỗi của chủ thể, chủ thể phải có năng lực trách nhiệm pháp lý. Tóm lại: vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thế có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ [44,488] Căn cứ vào các loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại mà vi phạm pháp luật thông thường được chia thành bốn nhóm cơ bản sau: - Tội phạm hình sự (tội phạm) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực 7 khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Chủ thể tôi phạm hình sự là những cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự [44,492] - Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức. - Vi phạm dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm hại tới những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản…. Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức.
- Vi phạm kỷ luật nhà nước là những hành vi có lỗi trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học…, nói cách khác, là không thực hiện đúng kỷ luật lao đông, học tập, phục vụ được đề ra trong cơ quan, xí nghiệp, trường học… nào đó. Như vậy, vi phạm hành chính (VPHC) là một loại của vi phạm pháp luật. Trong xã hội để thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước phải đặt ra rất nhiều quy tắc quản lý nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội ở các lĩnh vực khác nhau mà nhà nước đặt ra các quy tắc quản lý khác nhau như: quy tắc quản lý trên lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật, y tế vv….
Vi phạm hành chính cũng được phân ra thành các loại vi phạm khác nhau như VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; thú y; thương mạivv…Xác định được hành vi vi phạm hành chính sẽ là cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính. 8 Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2008 định nghĩa một cách gián tiếp vi phạm hành chính như sau: “ Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Theo tinh thần đó, vi phạm hành chính được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Như đã nói ở trên VPHC là một loại vi phạm pháp luật do vậy vi phạm hành chính mang đầy đủ những dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm pháp luật nói chung gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi và phải bị xử phạt hành chính.
Từ góc nhìn về vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng, việc nghiên cứu vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của lực lượng Cảnh sát biển được đầy đủ và toàn diện hơn. Trước hết phải xác định được hành vi vi phạm hành chính (tức là xác định đúng cơ sở xử phạt) thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới đúng đắn, mới đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm và cảnh báo, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự tuỳ tiện trong xử phạt hành chính. Điều 1 Thông tư 137/2005/TT-BQP ngày 20 tháng 09 năm 2005 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 06 năm 2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam định 9 nghĩa: “Xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực, trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không phải là tội phạm được quy định tại Nghị định và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa vi phạm hành chính nêu trên được định nghĩa một cách gián tiếp, qua định nghĩa cho thấy các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng Cảnh sát biển (CSB) Việt Nam như tính trái pháp luật của hành vi; tính có lỗi của chủ thể vi phạm; hành vi vi phạm xâm hại tới các quy tắc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực thương mại; hải quan; thuế; bảo vệ môi trường; thú y; kiểm dịch động thực vật và các lĩnh vực khác có liên quan; tính chịu trách nhiệm hành chính.
Trên cơ sở những nội dung đã được quy định trong văn bản pháp luật nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng Cảnh sát biển như sau: Vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy tắc quản lý hành chính trên các lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật; y tế và các lĩnh vực khác có liên quan trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. 10 Vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng CSB Việt Nam là một loại vi phạm hành chính đặc thù, bởi hành vi vi phạm của các chủ thể diễn ra trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Nhưng trước hết nó cũng là một loại vi phạm pháp luật nên mang đầy đủ những dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật, đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động của con người hoặc tổ chức trái với các quy định của pháp luật; hành vi đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng lỗi cố ý hoặc vô ý; chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Ngoài ra, vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam còn có những đặc điểm đặc thù sau đây: Thứ nhất: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan, không có hành vi thì không có vi phạm, hành vi vi phạm hành chính có tính trái pháp luật. Hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của lực lượng CSB Việt Nam được biểu hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động. Ví dụ: xả khói mù, bắn các loại súng, phóng các tín hiệu hoặc sử dụng các vật liệu nổ trong vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam, đây là hành vi thể hiện bằng hành động. Hành vi không có phương tiện phòng cháy chữa cháy trên tàu, thuyền; thuyền viên không có đủ bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn hàng hải, đây là hành vi thể hiện bằng không hành động.
Dù chủ thể vi phạm thực hiện hành vi dưới hình thức nào thì hành vi đó đều trái pháp luật, trái với các quy tắc quản lý của nhà nước, đi ngược lại với những yêu cầu trong các quy định của pháp luật.