CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE ODA VA ODA CUA NHẬT BẢN.1 Một số van đề chung về ODA 1.1 Khái niệm Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - gọi tắt là ODA) là tất cả các khoản tài trợ không hoàn lại, tài trợ hoàn lại hoặc các khoản tin dụng ưu đãi (nghĩa là cho vay với thời gian dai và lãi suất thấp) của các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức phát triển của Liên Hiệp Quốc bao gồm Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF); Chương trình Lương thực Thế Giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO); Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của Liên Hợp Quốc (UNCDE); Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO); Cao uy Liên Hợp Quốc về người ti nạn (UNHCR); Tổ chức y tế Thế giới (WHO); Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA); Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của LHQ (UNESCO); các tổ chức liên Chính phủ bao gồm: Liên minh Châu Âu (EU); Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD); Hiệp hội các nước ASEAN. ; Các Tổ chức Tài chính Quốc tế bao gồm: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Phát triển Châu A (ADB); Quỹ các nước xuất khâu dau mỏ (OPEC); Ngân hàng Đầu tư Bắc Au (NIB) và Quỹ Phát triển Bắc Âu (NID); Quỹ Kuwait, Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) v.v gọi chung là các đối tác tài trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ (chủ yếu là các nước đang phát triển) nhằm mục đích hỗ trợ các nước này phát triển kinh tế (ngoại trừ mục tiêu quân sự). Đây là một nguồn vốn rât quan trọng cho các quôc gia nhận viện trợ đê xây dựng cơ sở hạ tâng kinh tê 11 Phùng Tuệ Phương Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam xã hội cũng như sử dụng vào các mục đích kinh tế xã hội mang tính cộng đồng khác °. Nguồn vốn ODA đầu tư vào các nước này rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, trước hết hỗ trợ nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu.
ODA được thực hiện thông qua việc chuyền giao các loại nguồn vốn (như trợ giúp băng tiền, vật tư, thiết bị.), chuyển giao công nghệ, chuyền giao tri thức (tư vấn, cung cấp chuyên gia, dao tạo cán bộ.), từ các tô chức Quốc tẾ, các nước công nghiệp phát triển. Vốn tài trợ có thé có hoàn lại hoặc không hoàn lại với điều kiện ưu đãi nhằm thúc đây sự phát triển kinh tế và tăng phúc lợi xã hội của các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam ODA được coi như là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng được ưu tiên sử dung cho các dự án phát triên kinh tê - xã hội của đât nước.2 Sự ra đời và phát triển của ODA Thực ra, hình thức trợ giúp giữa các nước đã xuất hiện từ lâu. Song, chỉ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay sự giúp đỡ chính thức của các nước được quan tâm nhiều hơn và trở thành một hoạt động thường xuyên.
Người ta cho rằng, sau năm 1945 hình thức cứu trợ lương thực, thực phẩm của Mỹ cho các nước được coi như là hình thái sơ khai của ODA. Dù rằng, sự trợ giúp này mang tính chất ngăn hạn với khối lượng hạn chế. song, thực sự đã có ý nghĩa to lớn đối với các nước trong việc giải quyết kịp thời khó khăn. Dan dan, sự trợ giúp này được mở rộng và băng nhiều hình thức và mục đích khác nhau, đặc biệt nồi bật là tài trợ để giúp đỡ các nước khôi phục và phát triển kinh tế.
12 Phùng Tuệ Phương Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam , Quy chế quản lý va sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức do Chính phủ ban hành ngày 15/03/1994. Năm 1960 tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển gọi tắt là OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) ra đời trong đó thành lập Uy ban viện trợ và phát triển DAC (Development Assistance Committee) gồm các thành viên là các đối tác tài trợ với mục đích giúp đỡ các nước nghẻo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của mình. Với sự phát triển kinh tế nhanh chóng khoảng cách giữa các nước TBCN và các nước nghèo ngày càng gia tăng, do vay sự trợ giúp ngày càng trở nên cần thiết hơn. Điều này không chỉ xuất phát từ yêu cầu của các nước nghèo mà từ chính lợi ích của các nước phát triển và của thế giới.
Không chỉ có Mỹ, các nước châu Âu mà Nhật Bản cũng nhanh chóng trở thành nhà tài trợ ODA hàng đầu. Ngoài ra, khi nghiên cứu sự ra đời và phát triển của ODA cũng cần phải nói đến sự trợ giúp to lớn của các nước XHCN trước đây, đặc biệt là Liên Xô cũ đối với các nước chậm phát triển. Ngày nay, mặc dù thế giới đã có những bước tiễn nổi bật nhất là trong kinh tế, song một bộ phận dân cư đông đảo của thế giới vẫn còn sống trong nghèo khổ, bệnh tật. Vì vậy, tài trợ ODA của các nước là sự trợ giúp hết sức quan trọng.
Sự trợ giúp này không chỉ tạo điều kiện dé các nước nghèo nhanh chóng thoát khỏi khó khăn mà còn giúp đỡ tạo lập sự ồn định và phát triển chung của thế giới. Cùng với thời gian, ODA ngày càng khang định vai trò của nó trong xu thế toàn cầu hoá, nhăm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các nước, xây dựng một thế giới an toàn, ôn định và phát triển.3 Phân loại ODA 13 Phùng Tuệ Phương Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam Dé hiểu rõ hơn về ODA cần thiết phải tìm hiểu các loại hình ODA. Trên thực tế tính chất và mục đích viện trợ ODA rất đa dạng, phạm vi rộng, được cu thể trong các chương trình dự án của nước nhận viện trợ ODA và đối tác cấp ODA, vì thế việc phân loại một cách thống nhất gặp nhiều khó khăn. Hơn thế nữa, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với các điều kiện, quan điểm chiến lược khác nhau của nhiều nước và các tổ chức tải trợ nên việc phân loại ODA còn nhiều phức tạp.
Tuy nhiên, có thé nêu lên các loại hình chủ yếu của ODA như sau: - Theo tinh chat: a. Viện trợ không hoàn lại: Là một hình thức trợ giúp tai chính cho các nước đang phát triển theo các thoả thuận song phương mà không cần trả lại. Viện trợ cho vay : Các khoản cho vay ưu đãi (cho vay với thời gian dài và lãi suất thấp). Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức vay tín dụng (có thể ưu đãi hoặc bình thường).
- Theo điều kiện a. ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tai trợ không bi ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. ODA có ràng buộc: - Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hang hoá, trang thiết bi hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước ngoài tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). - Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một dự án cụ thê.
14 Phùng Tuệ Phương Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam c. ODA có ràng buộc một phân: Một phân chỉ ở nước câp viện trợ, phân còn lại ở bât cứ nơi nào. - Theo hình thức a. Hỗ trợ dự án: Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể cho không hoặc cho vay ưu đãi.
Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực thường gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và môi trường bao gồm đường sa, cầu cống, đê đập, trường học, bệnh viện, hệ thống viễn thông. Hỗ trợ kỹ thuật: Tăng cường năng lực, thể chế, đào tạo nguồn nhân lực, chuyền giao tri thức, chuyền giao công nghệ, nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu tong quan, lập kế hoạch, báo cáo khả thi. Hỗ trợ kỹ thuật thường gồm cung cấp chuyên gia, đảo tạo cán bộ, cung cấp trang thiết bị và được gọi là hỗ trợ kỹ thuật kiều dy án (Project-type technical Co-operation). Hỗ trợ chi phí: Gồm hỗ trợ cán cân thanh toán : thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyên giao tiền tệ), hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ trả nợ.
Viện trợ chương trình là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thê nào.4 Các đặc trưng cơ bản của ODA ODA là sự chuyên giao không hoàn lại hoặc có hoàn lại với những điều kiện ưu đãi nhất định được trích một phần từ tổng sản phẩm quốc dân của nước giàu sang các quốc gia đang phát triển, hoặc kém phát triển, trong đó chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Nước tiếp 15 Phùng Tuệ Phương Tài trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam nhận ODA thường được ưu đãi về lãi suất, thời gian cho vay, ân hạn và trả nợ. Tài trợ ODA không chỉ trực tiếp hỗ trợ cho các nước đang phát triển nói riêng mà còn vì mục đích của sự phát triển toàn cầu nói chung. Từ những qui định, mục tiêu và kết quả của viện trợ quốc tế có thé nêu lên một số đặc trưng chủ yếu của nguồn vốn ODA như sau: + ODA là một khoản tai trợ nợ (trừ những khoản tai trợ không hoàn lại), tuy nhiên, không giống như các khoản tài trợ nợ khác như trái phiếu, vay tín dụng ngân hàng, các khoản ODA sẽ trả gốc lẫn lãi nhưng với những điều kiện ưu đãi hết sức đặc biệt.
+ ODA là nguồn vốn ưu đãi do tỷ lệ cho không của nó rất cao. Theo WB, để được gọi là ODA thì khoản viện trợ phải có tỷ lệ cho không lớn hơn hoặc băng 25%. Các khoản tín dụng cho vay thường có thời gian ân hạn dài, lãi suất cho vay thấp. + Đối tượng nhận viện trợ ODA là các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước nghèo.
Chỉ có các nước có đủ điều kiện, tiêu chí do các tổ chức tài trợ đặt ra thì mới được nhận ODA.