phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 4 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ trong bối cảnh hội nhập TPP 3 z Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Tác động của Hiệp định TPP khi có hiệu lực đến hoạt động chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản vào Việt Nam Chƣơng 4: Quan điểm của Việt Nam về chuyển giao công nghệ và những hàm ý cho Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về vai trò của khoa học công nghệ dối với nền kinh tế và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian qua Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số cuốn sách, bài báo, tạp chí, nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc và nƣớc ngoài nghiên cứu về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn của vai trò của khoa học công nghệ đối với các doanh nghiệp và nền kinh tế và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Đánh giá về năng lực khoa học công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam có Báo cáo hàng năm “Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam” kết quả điều tra qua các năm 2011, 2012, 2013 (Viện nghiên cứu kinh tế Trung ƣơng, Tổng cục thống kê, Trƣờng đại học Copenhagen, 2012, 2013, 2014).
Báo cáo đã nêu ra những tiêu chí đánh giá chủ yếu về năng lực khoa học công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam, đánh giá khách quan, chính xác về năng lực khoa học công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Báo cáo cũng đƣa ra đƣợc một số nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh và công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp ví dụ nhƣ tác động của các chính sách về công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, các trở ngại của các doanh nghiệp trong kinh doanh và nâng cao năng lực công nghệ. Đặc biệt, Báo cáo lấy kết quả điều tra năm 2013 có đề cập đến vai trò của chuyển giao công nghệ đối với năng lực công nghệ của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những thống kê ban đầu về xu hƣớng chuyển giao và tiếp nhận công nghệ giữa các doanh nghiệp nhƣng chƣa đƣa ra đƣợc những đánh giá chuyên sâu về 5 z việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam từ các doanh nghiệp nƣớc ngoài và doanh nghiệp Nhật Bản.
Đề cập đến nội dung chuyển giao công nghệ ở Việt Nam còn có nghiên cứu “Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” (Hoàng Văn Cƣơng, 2005). Đây là một trong số ít các nghiên cứu ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Nghiên cứu đã đƣa ra các nhận xét về môi trƣờng khoa học công nghệ, năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm năm 2005; nêu ra thực trạng của hoạt động chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam qua hai phƣơng thức tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài và tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong nƣớc, đánh giá đƣợc những hạn chế cũng nhƣ kết quả tích cực đạt đƣợc của các hoạt động đó, qua đó đƣa ra đƣợc một số giải pháp thúc đẩy một cách hiệu quả chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu về các nƣớc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam là tất cả các quốc gia, chƣa có những thống kê và đánh giá về chuyển giao công nghệ của Nhật Bản vào Việt Nam, hơn nữa, nghiên cứu đƣợc thực hiện năm 2005, hiện nay thực trạng về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi so với trƣớc kia, một số kết quả nghiên cứu không còn phù hợp với tình hình thực tại.
Nghiên cứu “Chuyển giao công nghệ, đầu tư và các tác động lan tỏa năng suất: Bằng chứng từ kết quả điều tra ở Việt Nam” (Carol Newman, John Rand, Theo Talbot, Finn Tarp, 2013) đã dựa trên cách tiếp cận của Javorcik (2004), sử dụng số liệu từ cuộc điều tra Năng lực cạnh tranh và công nghệ thực hiện năm 2010, 2011, 2012 để phân tích và đƣa ra những đánh giá về tác động lan tỏa của FDI và chuyển giao công nghệ đến năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp trong nƣớc nhận đƣợc nhiều tác động lan tỏa từ các doanh nghiệp liên doanh hơn là các doanh 6 z nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài. Nghiên cứu đã cho thấy bằng chứng về sự tác động của chuyển giao công nghệ đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Nghiên cứu về vấn đề này còn các nghiên cứu nhƣ: “Chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp” (Lƣu Đức Khải, 2015); “Chính sách thuế đối với hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam” (Nguyễn Văn Phụng, 2015); “Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000 – 2011” (Hoàng Văn Cƣơng, 2012)…cũng đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian qua.
Các công trình nghiên cứu về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam Trong số các công trình nghiên cứu về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP) và những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam có bài viết “Hiệp định TPP và những tác động đến xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài” (Nguyễn Thị Liên Hoa, Phùng Đức Nam, 2016). Bài viết đã nghiên cứu và chỉ ra những chƣơng, điều khoản trong TPP sẽ có thể tác động mạnh đến xu hƣớng đầu tƣ trực tiếp của các nƣớc trong khối TPP vào Việt Nam khi TPP có hiệu lực nhƣ chƣơng Dệt may, Thƣơng mại điện tử …, dự đoán tác động của TPP đến xu hƣớng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI của các nƣớc trong khối TPP đến phần còn lại của thế giới và xu hƣớng FDI của các nƣớc trong khối TPP với nhau. Việt Nam đƣợc dự báo sẽ là một nƣớc nhận đƣợc tác động tích cực lớn về xu hƣớng FDI sau khi TPP có hiệu lực. Tuy nhiên, FDI chỉ là một nhân tố tác động đến chuyển giao công nghệ, bài viết chƣa đề cập đến tác động toàn diện của TPP khi có hiệu lực đối với chuyển giao công nghệ vào Việt Nam nói chung và chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản vào Việt Nam nói riêng.
7 z Đánh giá một cách tổng thể tác động có thể có của TPP khi có hiệu lực đến Việt Nam có bài viết “Đánh giá sơ bộ tác động của TPP đối với Việt Nam” (Lê Hồng Hiệp, 2015). Bài viết cung cấp nhận định sơ bộ về tác động kinh tế, chính trị, và chiến lƣợc tiềm năng của TPP đối với Việt Nam, bài viết này lập luận rằng Việt Nam có thể hƣởng lợi đáng kể về tốc độ tăng trƣởng GDP, xuất khẩu, và thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Trong dài hạn, nền kinh tế cũng đƣợc hƣởng lợi nếu những cải cách hơn nữa về pháp lý, thể chế, và hành chính đƣợc thực hiện cùng với những cải tiến trong các lĩnh vực nhà nƣớc và tƣ nhân. Bài viết chỉ đề cập đến tác động của TPP đến một số lĩnh vực liên quan đến chuyển giao công nghệ của nƣớc ngoài vào Việt Nam nhƣ thƣơng mại, đầu tƣ, quyền sở hữu trí tuệ, lao động…, chƣa phân tích tổng thể và đƣa ra những đánh giá tổng thể và trực tiếp đến chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài vào Việt Nam khi TPP có hiệu lực.
Nghiên cứu cề tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam còn có nghiên cứu “Tác động của TPP lên nền kinh tế Việt Nam – Các khía cạnh vĩ mô và trường hợp ngành chăn nuôi” (Nguyễn Đức Thành, Phạm Thị Thu Hằng, 2015). Nghiên cứu này là một công trình công phu khi đã dự đoán định lƣợng những tác động của TPP lên nền kinh tế ở những lĩnh vực chủ yếu nhƣ đầu tƣ, thƣơng mại, lao động, sản lƣợng, phúc lợi bằng mô hình cân bằng tổng thể khả toán (CGE) và mô hình GSIM…Trong hầu hết các kịch bản mô phỏng đƣợc đƣa ra cho thấy mức tăng đầu tƣ của Việt Nam là ấn tƣợng nhất trong các nƣớc, xấp xỉ mức tăng của Nhật và gần gấp đôi mức tăng của Úc, Malaysia và Mỹ (tính theo giá trị), thƣơng mại của Việt Nam với các nƣớc TPP tăng lên, đối với các nƣớc ngoài TPP, Việt Nam có xu hƣớng tăng cƣờng nhập khẩu và giảm nhẹ xuất khẩu; sản lƣợng của các ngành chăn nuôi đều giảm, ngoại trừ nhóm động vật sống (OAP). Nghiên cứu cũng đƣa ra một số khuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam dựa trên kết 8 z quả nghiên cứu trên. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ đề cấp đến một số yếu tố ảnh hƣởng đến chuyển giao công nghệ nhƣ đầu tƣ, thƣơng mại, lao động, chƣa đề cấp đến những tác động trực tiếp của TPP đến xu hƣớng chuyển giao công nghệ vào Việt Nam sau khi TPP có hiệu lực.
Một số nghiên cứu khác về vấn đề này nhƣ: “Dự báo tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương tới đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” (Phùng Xuân Nhạ, Nguyễn Thị Minh Phƣơng, 2016); “Tham gia TPP – Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam” (Hà Văn Hội, 2015); “Tác động của Hiệp định TPP đến nền kinh tế các nước thành viên” (Doãn Thị Phƣơng Anh, 2015)… Các đề tài này cũng là các công trình tiêu biểu nghiên cứu về Hiệp định và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản và đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam Nghiên cứu về đề tài hợp tác kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian qua có luận văn “Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam và triển vọng” (Trần Thu Phƣơng, 2013). Trong nghiên cứu này, tác giả đã trình bày đƣợc thực trạng nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm qua theo ngành, theo hình thức đầu tƣ, địa phƣơng nhận đầu tƣ, đánh giá về những mặt tích cực và hạn chế của FDI của Nhật Bản vào Việt Nam.