Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác Việt Nam — Nhật Bản trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Chương 2: Thực trạng quan hệ hợp tác Việt Nam — Nhật Bản trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao từ nam1995 đến 2017 Chương 3: Triển vọng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng quan hệ Việt Nam — Nhật Bản trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao NỘI DUNG CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BAN TRONG LĨNH VUC ĐÀO TẠO NGUON NHÂN LỰC CHÁT LƯỢNG CAO 1.1 Khái niệm về hợp tác trong quan hệ quốc tế Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, toàn cầu hóa đang trở thành một xu hướng tất yêu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi quốc gia.Toàn cầu hóa đã dẫn tới những mạng lưới liên kết toàn cầu, thị trường giao thương, thương mại giữa các nước ngày càng được mở rộng. Thông qua quá trình toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tăng lên và cũng xuất hiện những vấn đề toàn cầu mà chỉ một quốc gia đơn lẻ thì không giải quyết được, ví dụ như tình trạng nóng lên toàn cầu, chủ nghĩa khủng bố. Điều này đã dẫn tới sự cần thiết trong hợp tác giữa các quốc gia. Song hành cùng tiến trình phát triển của lịch sử, hợp tác đã tồn tại cùng các cộng đồng sơ khai.TSHoang Khắc Nam: “Hợp tácđã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc.
Khi xuất hiện các chủ thé quan hệ quốc tế tức là khi quốc gia va dân tộc hình thành, hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế”.'Từ đó đến nay, hợp tác quốc tế đã dần dần phát triển về hình thức, lĩnh vực, cũng như quy mô. Trong quan hệ quốc tế, hợp tác là hành vi tương tác hòa bình giữa các chủ thé quan hệ quốc tế (bao gồm các chủ thé quốc gia và các chủ thé phi quốc gia) nhằm thực hiện một mục đích chung.Trong đó, chủ thể quốc gia là chủ thê cơ bản và có vai trò lớn nhất.Mục đích của hợp tác quốc tế chính là nhằm đảm bảo hòa bình và lợi ích của các quốc gia.Hợp tác không những ' GS.TS Hoàng Khắc Nam, Giáo trình Nhập môn Quan hệ Quốc tế, Nhà xuất bản Đại Học Quốc gia Hà Nội, trang 222 dem lại những lợi ích cho các bên tham gia, ma còn làm giảm nguy cơ xung đột giữa các quốc gia. Chúng ta có nhiều cách dé phân loại hợp tác quốc tế. - Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: hợp tác chính trị, hợp tác về văn hóa, kinh tế.
- Phân loại theo quy mô: hợp tác khu vực (EU, ASEAN), hợp tác toàn cầu (UN, WTO) - Phân loại theo số lượng chủ thé tham gia: hợp tác song phương, hợp tác đa phương. Với phạm vi của luận văn, tác giả đề cập chủ yéu đến hop tác giữa 2 chủ thé chính là Việt Nam và Nhật Ban, trong lĩnh vực dao tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực “Nguôn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đặt con người vào trung tâm, và là yếu tố chính quyết định tới sự phát triển của một tổ chức hay một xã hội.Hiện nay, do xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau của các học giả nên cũng dẫn tới nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.Còn theo Ngân hàng Thế Giới, thì nguồn nhân lực là “toàn bộ vốn con người, bao gồm thé lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân”. Như vậy, theo các tổ chức quốc tế thì nguồn nhân lực chính là toàn bộ lực lượng lao động củng với tất cả những năng lực về sức mạnh thé chat, trí tuệ, tỉnh thần của từng cá nhân được huy động để phục vụ cho quá trình phát triên của một xã hội, quôc g1a.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), băng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyên đổi cơ cấu lao động, cơ cau kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.Theo cach hiểu này, nguồn nhân lực chính là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động của một địa phương hay một quốc gia, san sàng tham gia và có khả năng tham gia lao động ở các mức độ, yêu cầu khác nhau trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Có thé định nghĩa nguồn nhân lực chính là tổng thé về số lượng, chất lượng, và cơ cấucủa lực lượng lao động, trong đó bao gồm những yêu cầu về khả năng lao động, phẩm chất đạo đức, tinh thần, trí tuệ, thể lực đáp ứng được yêu cầu trong lao động, sản xuất và phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao Theo TS. Hoàng Minh Lợi: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là một bộ phận của lực lượng lao động có khả năng đáp ứng được những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất, hiệu quả trong công việc, có những đóng góp đáng ké cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng nói riêng, toàn xã hội nói chung”. Những yếu tố cốt lõi quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực: - Trình độ học van, chuyên môn - Kỹ năng, khả năng sáng tạo - Phẩm chất đạo đức Tựu chung lại, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận quan trọng nhất và ưu tú nhất của lực lượng lao động, có trình độ học vấn chuyên môn kỹ ? TS Hoàng Minh Lợi, Chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Nhật Bản, 2014, trang 14 10 thuật cao va được đảo tao bai ban, có những kỹ năng lao động vượt trội, có khả năng sáng tạo và có thể vận dụng những kiến thức đã có vào trong công việc, trong lao động sản xuất dé tạo ra năng suất cao.
Nguồn nhân lực chat lượng cao còn là những lao động có khả năng thích ứng tốt với công việc, đem lại hiệu quả cao và có những phâm chat đạo đức, tinh kỷ luật tốt. Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, hợp tác và hội nhâp quốc tế ngày càng phát triển đa dạng thì nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cần đáp ứng những yêu cầu trong phạm vi của một quốc gia, mà cần có những kiến thức về chuyên môn, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng cần có những kỹ năng có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động quốc tế như trình độ ngoại ngữ, kĩ năng làm việc nhóm.2 Bối cảnh quan hệ Việt Nam — Nhật Bản trong lĩnh vực hợp tac đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 1.1 Bối cảnh thế giới Thế giới đang chứng kiến quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, có tác động tới mọi quốc gia, dân tộc và đời sống của từng cá nhân.Toàn cầu hóa là một xu thé tất yếu và ngày càng thé hiện rõ nét, cùng với đó là quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được ở rộng.Ngày càng có nhiều hiệp định kinh tế giữa các nước được ký kết, số lượng các nước tham gia vào những tô chức quốc tế ngày càng tăng, hứa hẹn một thời kỳ mới của hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày cũng ngày một gia tăng.Các quốc gia ngoài việc tập trung vào thúc day phát triển kinh tế, còn tập trung vao nâng cao nâng lực cạnh tranh của minh.Trong xã hội hiện nay, khoa học — công nghệ đã có những bước tiễn vượt bậc, thương mại cũng được mở rộng, nền kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế, đòi hỏi những yêu cầu đặc biệt về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Một trong những yếu tố quan trọngcó thê giúp phát huy năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia chính 11 là việc nâng cao chất lượng nguôồn nhân lực, đảm bảo với yêu cầu của sự phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ mới.
Chính vì lẽ đó, nhiều nước nước trên thế giới đã có những chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực trong nước và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến từ nước ngoài. Ngay trong khu vực Châu Á và Đông Nam Á, đã có những nước được đánh giá cao về nguồn nhân lực như Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines. Hợp tác và cạnh tranh tưởng chừng như là hai khía cạnh tương phản nhau, nhưng thực tế đã cho thấy răng hai quá trình này cũng gắn liền với nhau bởi toàn cầu hóa khiến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng cao.Nếu chỉ có cạnh tranh mà không hop tac thi sẽ rat dé nảy sinh ra những mâu thuẫn và ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các quốc gia.Bởi vậy, nhu cầu hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực là vô cùng cấp bach.Dé các quốc gia có thé phát triển nói chung và đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng thì thì việc hợp tác là yêu cầu vô cùng quan trọng. Bởi hợp tác chính là “cách tương tác có lợi cho sự phát triển”.Không một quốc gia nào có đủ tiềm lực dé phát triển nếu không có hợp tác, muốn phát triển thì phải có hợp tác.2 Bối cảnh Việt Nam Tính đến năm 2018, tức là sau hơn 30 năm Đồi Mới, nên kinh tế của Việt Nam được đánh giá là đang trên đà phát triển.
Trong hội thảo "Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2018 và đến năm 2020", Bộ trưởng Bộ KH&DT Nguyễn Chí Dũng cho biết: “Thành tựu nổi bật nhất của năm 2017 là lan dau tiên sau rất nhiều năm hoàn thành tất cả các chỉ tiêu kinh té-x hội mà Quốc hội giao; đạt được kết quả toàn điện, đông đều trên tat cả lĩnh vực; các khu 3GS.TS Hoàng Khắc Nam, “Giáo trình nhập môn Quan hệ Quốc Tế”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội. 12 vực kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ déu có mức tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyền dịch tích cực.”?