phần mở đầu và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Chính sách của Nhật Bản đối với khu vực trƣớc năm 1998. Chƣơng này gồm hai nội dung lớn. Một là tập trung phân tích bối cảnh trong nƣớc và khu vực tác động đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Hai là tập trung nghiên cứu nội dung chính sách của Nhật Bản đối với khu vực trƣớc năm 1998.
Chƣơng 2: Chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam từ năm 1998 đến nay. Chƣơng này gồm ba nội dung lớn. Một là phân tích nhân tố Nhật Bản, nhân tố Việt Nam và nhân tố khu vực tác động đến sự điều chỉnh chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam từ năm 1998 đến nay. Hai là phân tích các học thuyết ngoại giao là cơ sở của việc điều chỉnh chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam từ năm 1998 đến nay.
Ba là nghiên cứu nội dung chính sách trên nhiều lĩnh vực chủ yếu. Chƣơng 3: Các kết quả thực hiện chính sách và triển vọng quan hệ Việt Nam – Nhật Bản. Chƣơng này gồm hai nội dung lớn. Một là phân tích, đánh giá các kết quả đạt đƣợc của việc thực hiện chính sách của Nhật Bản đối 5 z với Việt Nam từ năm 1998 đến nay.
Hai là, dự báo triển vọng của mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong thời gian tới. Do đề tài nghiên cứu mang tính thời sự cao và không kém phần phức tạp, nguồn tài liệu tuy phong phú nhƣng vẫn cần đƣợc bổ sung và cập nhật, với thời gian có hạn cùng sự hiểu biết và kinh nghiệm của ngƣời viết còn hạn chế, nên luận văn khó tránh khỏi có những thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô. 6 z Chƣơng 1 CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI KHU VỰC TRƢỚC NĂM 1998 1.
BỐI CẢNH LỊCH SỬ 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực Khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng là khu vực rộng lớn tập trung hầu hết các quốc gia nằm hai ven bờ của đại dƣơng lớn nhất thế giới, là khu vực đan xen nhiều lợi ích và có quan hệ phức tạp giữa các nƣớc lớn với nhau nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga… và các nƣớc đó với khu vực ASEAN. Là khu vực có sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, thể chế chính trị và có trình độ kinh tế phát triển khác nhau. Khu vực này có cả Thiên chúa giáo, Tin lành tập trung chủ yếu ở Mỹ, Australia, Nga….
Phật Giáo và Nho giáo chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam…, Hồi giáo chủ yếu ở Indonexia, Malayxia.Khu vực này cũng đồng thời là nơi tập trung phần lớn các nền văn minh cổ đại nhƣ Ấn Độ, Trung Hoa. Do đó có thể nói rằng khu vực này là sự giao thoa của 2 nền văn hóa Đông – Tây. Về thể chế chính trị, khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng bao gồm nhiều thể chế chính trị rất khác biệt và đa dạng nhƣ Tƣ bản chủ nghĩa ở Mỹ, Singapore, Canada,. quân chủ lập hiến ở Thái Lan, xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, Việt Nam.
Những nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động trực tiếp đến chính sách đối nội, đối ngoại của từng quốc gia cũng nhƣ mối quan hệ giữa các quốc gia đó với nhau trong khu vực. Châu Á - Thái Bình Dƣơng là khu vực có mức tăng trƣởng cao, phát triển năng động, tuy nhiên có sự chênh lệch nhau khá lớn về trình độ phát triển. Bên cạnh nƣớc Mỹ, Nhật với 1 nền kinh tế công nghiệp phát triển mạnh mẽ, còn có các nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhƣ Hàn Quốc, Singapore, và các nƣớc với nền kinh tế đang phát triển nhƣ Inđônexia, Thái Lan, Việt 7 z Nam… Ở đây còn có sự chênh lệch nhau về dân số, tài nguyên thiên nhiên., nhƣng chính sự khác biệt đó sẽ khiến cho các quốc gia trong khu vực có thể bổ sung đƣợc cho nhau trong quá trình hợp tác phát triển đặc biệt là trong tiến trình toàn cầu hóa khu vực. Giữa các quốc gia này đang dần hình thành các cặp quan hệ song phƣơng, đa phƣơng, vừa có chung lợi ích hợp tác, vừa có mâu thuẫn cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau nhƣ Mỹ – Nhật Bản ; Mỹ – Nhật - Trung… Chính sách của mỗi nƣớc và các mối quan hệ giữa các nƣớc đều ảnh hƣởng đến diễn biến cục diện chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội của khu vực.
Vì vậy, bản thân mỗi quốc gia luôn thận trọng khi hành động và đƣa ra các chính sách đối nội đối ngoại để đảm bảo sự ổn định, hòa bình và phát triển khu vực. Đặc biệt trong giai đoạn này, giai đoạn hậu chiến tranh lạnh, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang có xu hƣớng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đó là xu hƣớng tích cực đối với sự phát triển của thế giới. Ở khu vực này cũng bắt đầu hình thành nên các trung tâm quyền lực, có mức độ ảnh hƣởng nhất định về chính trị, an ninh, kinh tế và quân sự đối với khu vực. Chính vì thế, cục diện chính trị, an ninh, kinh tế của khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng sẽ đƣợc phản ánh qua tình hình của các quốc gia, quan hệ đa chiều giữa các quốc gia, nhất là các nƣớc lớn có vai trò và ảnh hƣởng nhƣ các trung tâm quyền lực trong khu vực.
Trƣớc hết phải nói đến Mỹ. Với sự có mặt về quân sự và hoạt động kinh tế của Mỹ ở đây từ sau Thế chiến thứ 2 đến nay, Mỹ có ảnh hƣởng và sức chi phối rất lớn đối với khu vực. Về chính trị - ngoại giao. Mỹ là một trong những nƣớc sáng lập ra tổ chức Liên Hợp Quốc, là thành viên thƣờng trực có quyền phủ quyết của Hội 8 z đồng Bảo an.
Mỹ cũng là quốc gia thành viên quan trọng của các định chế tài chính quốc tế nhƣ WB, IMF, là quốc gia có tiếng nói trọng lƣợng của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), nắm giữ quyền lãnh đạo của liên minh quân sự lớn trên thế giới hiện nay là NATO. Sau khi trật tự Yanta sụp đổ, Mỹ trở thành một siêu cƣờng quốc về cả quân sự và kinh tế, do đó, đây chính là thời điểm thích hợp nhất để có thể khẳng định vai trò và tầm ảnh hƣởng của mình ở khu vực và trên thế giới. Mỹ đặc biệt chú trọng đến khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng – nơi đƣợc dự báo là trung tâm phát triển của thế giới trong thế kỷ XXI với việc tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc trên nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong quan hệ với Nhật Bản. Tuy nhiên, thế giới hiện nay lại nổi lên nhiều quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao khiến Mỹ e ngại về vị trí lãnh đạo của mình.
Bên cạnh đó tính tùy thuộc lẫn nhau dƣới tác động của toàn cầu hóa với lực đẩy mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đã làm thay đổi nền chính trị thế giới từ một hệ thống tƣơng đối khép kín và lệ thuộc của thời kỳ chiến tranh lạnh sang một hệ thống tính mở, ít áp đặt và đem lại nhiều cơ hội hơn cho mọi quốc gia kể cả những quốc gia kém phát triển. Hơn nữa sau một thời gian dài phải gồng mình trong thời kỳ chiến tranh lạnh đến những năm 1990, dƣới sự lãnh đạo của Tổng thống Bill Clinton, Mỹ đã phải có những cải cách, điều chỉnh để đảm bảo vị trí của mình và phù hợp với xu hƣớng phát triển mới của khu vực và thế giới. Về an ninh - quân sự. Mỹ thực hiện chính sách an ninh gồm 3 thành phần: liên minh quân sự, duy trì sự hiện diện của lực lƣợng vũ trang Mỹ và thiết lập lại cơ cấu an ninh mới ở khu vực.
Mỹ xác định nhất quán liên minh giữa Mỹ và Nhật Bản là hòn đá tảng trong chiến lƣợc Châu Á - Thái Bình Dƣơng của mình Sự liên minh đó đƣợc 9 z biểu hiện trong một số văn bản hai nƣớc đã ký kết nhƣ: Tuyên bố chung Mỹ - Nhật Bản về an ninh năm 1996; những phƣơng châm mới hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật Bản năm 1997; với Hàn Quốc, liên minh của Mỹ dựa trên Hiệp ƣớc phòng thủ chung giữa hai nƣớc Mỹ - Hàn Quốc đƣợc ký kết năm 1953, trong có việc thành lập Bộ Tƣ lệnh hỗn hợp và quy chế về hiệp thƣơng và an ninh. Với các nƣớc Singapore, Philippin… Mỹ cũng đạt đƣợc một số thỏa thuận sử dụng các căn cứ quân sự ở đây. Ngoài ra, Mỹ đã điều động lực lƣợng quân đội Mỹ từ Châu Âu sang bố trí ở một số nƣớc đồng minh của Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng đồng thời tăng cƣờng các phƣơng tiện vũ khí tại khu vực này. Về kinh tế, đƣợc xem là mục tiêu ƣu tiên hàng đầu nên ngoài những biện pháp mạnh mẽ để phát triển kinh tế trong nƣớc nhƣ chính sách tiền tệ chặt chẽ và linh hoạt, hạn chế lạm phát, hạ lãi suất, giảm nợ công…, Mỹ chú trọng đến kinh tế đối ngoại với việc tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế song phƣơng với các nƣớc trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng; đồng thời thông qua việc nâng cao vai trò của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dƣơng để thúc đẩy tự do buôn bán, đầu tƣ và hợp tác ở khu vực.
Mỹ là nƣớc quan trọng cung cấp vốn, kỹ thuật và xuất khẩu hàng hóa cho khu vực. Ví dụ năm 1996, buôn bán của Mỹ với khu vực chiếm trên 1/3 kim ngạch ngoại thƣơng của Mỹ, còn đầu tƣ của Mỹ vào đây cũng bằng 1/7 đầu tƣ của Mỹ ở nƣớc ngoài. Bản thân phía Mỹ cũng khẳng định đây là khu vực quan trọng cả về chiến lƣợc lẫn kinh tế đối với Mỹ chỉ sau hai đối tác hàng đầu là NAFTA và EU. Do vậy, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 - 1998, Mỹ đã tích cực lập kế hoạch để đối phó nhằm hạn chế tối đa những ảnh hƣởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng đối với tình hình xuất nhập khẩu của Mỹ với các nƣớc trong khu vực.
10 z Một động thái quan trọng của chính phủ Mỹ tại khu vực Đông Nam Á là việc Mỹ chính thức xoá bỏ “ Lệnh cấm vận thƣơng mại” chống Việt Nam vào ngày 3/2/1994 và “ bình thƣờng hoá quan hệ với Việt Nam” vào ngày 11/7/1995.