CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI NHẬT Ở SÀI GÒN – TP. Một số vấn đề về lý thuyết Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu vận dụng những lý thuyết và khái niệm khoa học trong ngành nhân học và xã hội học, như lý thuyết về cộng đồng, lý thuyết về sự thích nghi. Lý thuyết về cộng đồng Để tìm hiểu người Nhật tại TP.HCM có phải là một cộng đồng cư dân hay không, chúng tôi vận dụng lý thuyết về cộng đồng và một số khái niệm liên quan, như cộng đồng (community), nghiên cứu cộng đồng (community studies), xã hội cộng đồng (community societies), ý thức cộng đồng (community conscousness), phát triển cộng đồng (community development). Cộng đồng là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội như cộng đồng ngôn ngữ, làng xã, cộng đồng người Việt ở nước ngoài4.
Về lý thuyết của ngành nhân học, xã hội học, Cộng đồng (Community) là một khái niệm cơ bản của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đó là một tập thể gồm những thành viên gắn với nhau bằng những giá trị chung. Cộng đồng có một sự cố kết nội tại không phải do những qui tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn, mà những liên hệ sâu hơn. Sự cố kết hữu cơ giữa các cá nhân là thành viên mới là nền tảng thật sự trong một cộng đồng.
Có hai cách hiểu về cộng đồng, thứ nhất là cộng đồng tính: là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, nhóm xã hội có tính cộng đồng. thứ hai là cộng đồng thể: là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều loại (thể) có qui mô khác nhau [35].Durkhiem, cộng đồng là một tập thể gồm những thành viên gắn với nhau bằng những giá trị chung.Durkhiem phân biệt sự cố kết hữu cơ với sự cố kết cơ học và cho rằng chính sự cố kết hữu cơ mới là nền tảng thật sự của cộng đồng. 4 Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng 2005, tr.
15 Còn Nghiên cứu cộng đồng (Community studies) được ứng dụng trong nghiên cứu những loại hình khác nhau của cộng đồng, trong việc nghiên cứu các khu vực, các xã hội đô thị [35]. Cộng đồng người Nhật ở TP.HCM hiện nay đã có những mối liên kết khá chặt chẽ ở TP.HCM qua các tổ chức lớn, câu lạc bộ, hội nhóm… Sự liên kết này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng người Nhật ở TP.HCM và bắt đầu cũng có ảnh hưởng đến các cộng đồng dân cư khác trên địa bàn TP. Vì vậy, khi nghiên cứu cộng đồng người Nhật ở TP.HCM, chúng tôi nghiên cứu mối liên hệ bên trong lẫn mối liên hệ bên ngoài của cộng đồng người Nhật ở TP.HCM để thấy rõ những hoạt động tương quan của họ ở TP. Về khái niệm Xã hội cộng đồng hay xã hội phức thể (Community societies), đây là khái niệm của ngành nhân học nhằm nghiên cứu các xã hội phức thể hay xã hội cộng đồng.
Đó là những cộng đồng nhỏ được nghiên cứu về mặt dân tộc, với tư cách là đại diện của văn hóa khu vực, đặc thù trong đời sống quốc gia [35]. Nếu ứng dụng khái niệm này thì có thể xem người Nhật ở TP.HCM là một cộng đồng, đây cũng là một cộng đồng nhỏ, tuy với số dân khoảng 3000 người, nhưng vẫn là một cộng đồng có đủ tư cách là đại diện cho nền văn hóa của họ. Trong nghiên cứu cộng đồng, còn chú ý đến Ý thức cộng đồng (Community conscousness) và Tinh thần cộng đồng (Communitas). Ý thức cộng đồng là sự hiểu biết của người dân về những điều kiện tồn tại trong cộng đồng của họ, với các tiềm năng.
Ý thức cộng đồng cũng có thể ám chỉ tới việc phát triển nhận thức của người dân về chính họ và họ cùng hành động để giải quyết các vấn đề đang ảnh hưởng tới họ [35]. Còn Tinh thần cộng đồng là một tinh thần cộng đồng rất tập trung, một tinh thần tập thể, công bằng, đoàn kết xã hội cao độ, đặc trưng của những thành viên đang trong giai đoạn trung gian5. Về cộng đồng người Nhật ở TP.HCM có thể thấy được nhận thức về chính cộng đồng của mình như là các sinh hoạt lễ hội, các tổ chức, hội nhóm, câu lạc bộ, trường học. đã tạo nên mối liên kết trong cộng đồng.
5 Conrad Philip Kottak (Nguyễn Hoàng Trung, Chu Thị Quỳnh Giao, Trần Thị Tâm, Phạm Thị Hồng Thanh dịch) 2006: Hình ảnh nhân loại (lược khảo nhập môn nhân chủng học văn hóa). NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 16 Ngoài ra, nghiên cứu về cộng đồng người ta còn đề cập đến khái niệm Phát triển cộng đồng (Community development), đó là tiến trình tạo ra những thay đổi về chất lượng sống bởi chính sự tham gia chủ động tích cực của các thành viên cộng đồng. Phát triển cộng đồng là khái niệm được sử dụng khi nói đến việc tổ chức các khía cạnh của đời sống cộng đồng, đặc biệt đối với dự án định cư mới và cải thiện những tiện nghi tồn tại trong cộng đồng [35].
Qua nội dung khái niệm này có thể thấy cộng đồng người Nhật ở TP.HCM rất có ý thức về việc phát triển cộng đồng của mình qua những sự quan tâm về điều kiện đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ. Tóm lại, qua nội dung của các khái niệm và lý thuyết về cộng đồng và với những nguồn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được có thể thấy giai đoạn trước 1975 người Nhật ở Sài Gòn chưa thể xem là một cộng đồng, nhưng từ sau năm 1975 người Nhật ở TP.HCM có thể gọi là một cộng đồng bởi những mối liên kết trong cộng đồng người Nhật và ý thức phát triển cộng đồng của họ. Lý thuyết về sự thích nghi Để tìm hiểu sự thích nghi của cộng đồng người Nhật ở TP.HCM, chúng tôi tiếp cận lý thuyết của ngành nhân học và xã hội học về vấn đề lý thuyết và khái niệm của sự thích nghi (adaptation). Thích nghi là những điều biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh môi trường mới, ví dụ: làm cho động vật xứ lạnh dần dần thích nghi với khí hậu nhiệt đới.
Thích nghi với nền nếp sinh hoạt mới6. Về Sự thích nghi (Adaptation), đây là quá trình mà một cá thể hay một nhóm trở nên thích hợp hơn về mặt thể lý hay văn hóa đối với môi trường cụ thể nào đó qua nhiều thế hệ. Quá trình này được thực hiện qua sự chọn lọc tự nhiên về mặt sinh học (như trong Tiến hóa luận của Darwin) hay qua một quá trình thích nghi với một nền văn hóa [35]. Trong sự thích nghi chúng tôi đề cập đến khái niệm Phương thức thích nghi (Adaptive strategy), phương thức này có thể được nêu lên như là một cách tiến hành của những hoạt động để vượt qua một giai đoạn đặc biệt bởi một nhóm 6 Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển tiếng Việt.
NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội – đà Nẵng 2005, tr. 17 đặc biệt hoặc một tập hợp của những người tuân theo để điều chỉnh hoặc xử lý những vấn đề khó khăn từ bên trong hoặc bên ngoài nội bộ của họ. Việc phân tích phương thức thích nghi là sự bổ sung cần thiết để nghiên cứu các mô thức của sinh thái học, sự tăng trưởng và suy thoái kinh tế, cấu trúc xã hội, qui trình chính trị hoặc trình bày các hệ tư tưởng [35]. Trải qua một quá trình sống ở TP.HCM, người Nhật có thể thích nghi được với hoàn cảnh sống ở TP.
Tất nhiên cũng có những vấn đề mà họ chưa thể thích nghi dễ dàng, nhưng người Nhật đã có phương thức thích nghi của họ. Dù là sống thời gian ngắn hay dài thì người Nhật cũng có những cách khắc phục đối với những điều chưa thể thích nghi được và kết quả là họ sẽ vượt qua được giai đoạn đầu khó khăn và dần dần thích nghi với cuộc sống ở TP. Khái quát về người Nhật ở Sài Gòn – TP.HCM Người Nhật sinh sống ở Sài Gòn – TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, trong đó mỗi giai đoạn đánh dấu những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của người Nhật. Giai đoạn người Nhật ở Sài Gòn trước năm 1975 Giai đoạn trước năm 1975, do điều kiện lịch sử, xã hội… nên người Nhật ở Sài Gòn chưa thể được xem là một cộng đồng dân cư.
Trước khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) diễn ra, đã có người Nhật ở Sài Gòn. Từ 1907 (sau khi chính phủ Nhật ký hiệp nghị với thực dân Pháp) đến cuối những năm 1930, người Nhật đã đến Đông Dương, trong đó một số là chủ khách sạn, chủ các cửa hiệu nhỏ, những nhà buôn nhỏ, chủ yếu buôn bán hàng nhập khẩu của Nhật. Ngoài ra, trong thành phần những người Nhật đến Đông Dương thời kỳ này có cả karayukisan (tạm gọi là gái làng chơi) và những người mối lái của họ. Chỉ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, những công ty lớn của Nhật Bản mới thiết lập các chi nhánh tại Hà Nội và Sài Gòn.
Năm 1921, Tổng lãnh sự quán Nhật Bản được mở chính thức tại Sài Gòn7. Có lẽ sau sự kiện này, Sài Gòn trở nên thu hút nhiều người Nhật đến hơn. Trên đường phố Sài Gòn, nhất là khu 7 Masaya Shiraishi (Nguyễn Xuân Liên dịch) 1994: Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam 1951-1987. NXB KHXH Hà Nội, tr.
18 vực Chợ Lớn đã xuất hiện không ít các công ty, cửa tiệm, quán ăn của người Nhật và chắc chắn những người Nhật này đã tạo nên nét đặc trưng văn hóa riêng biệt của người dân “xứ sở mặt trời mọc” giữa lòng Sài Gòn thời đó. Người Nhật lưu trú ở Sài Gòn dần dần tăng lên và nhu cầu gắn kết để giúp đỡ nhau nơi đất khách quê người trở nên cần thiết, vì vậy Hội người Nhật cư trú ở Sài Gòn được thành lập vào năm 1928. * Hội cư trú người Nhật ở Sài Gòn: Người Nhật ở Sài Gòn đã gửi đơn và tôn chỉ hoạt động xin thành lập “Hội cư trú người Nhật ở Sài Gòn” lên Thống Đốc Nam Kỳ vào ngày 26/04/1928. Số lượng thành viên ban đầu của Hội khoảng 36 người, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như ngân hàng, thương mại, khách sạn, ngoại giao, nha khoa, dịch vụ làm tóc, nhiếp ảnh.
Trụ sở của Hội tọa lạc ở số 26, đường Chaigneau (nay là đường Tôn Thất Đạm8), Sài Gòn.