đặt vấn đề phân tích toàn bộ phƣơng diện hình thức của các tác phẩm mà chỉ đi vào phân tích những đặc điểm hình thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu của chúng tôi bao gồm: giọng kể, điểm nhìn và hệ thống nhân vật. Xã hội học văn học – một hướng nghiên cứu Từ rất sớm, ngƣời ta đã nhận thấy mối liên hệ khăng khít giữa văn học và đời sống. Những chất liệu để tạo nên văn học nhƣ ngôn ngữ, cốt truyện, nhân vật… đều bắt nguồn từ cuộc sống. Tác phẩm sau khi đƣợc hoàn thành lại gia nhập đời sống văn học và đời sống xã hội với việc tác giả xuất bản tác phẩm của mình.
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu văn học theo hƣớng xã hội học là một yêu cầu luôn luôn cấp thiết trong bất cứ giai đoạn nào của lịch sử văn học. Về xã hội học văn học, trƣớc tiên cần phải phân biệt rõ sự khác biệt của hai khái niệm, hai hƣớng nghiên cứu. Một là những nghiên cứu xã hội học nghiên cứu về văn học, tức sự áp dụng những phƣơng pháp khảo sát xã hội học về thị trƣờng sách, vấn đề tiêu thụ, nhu cầu và thị hiếu của độc giả… Ở hƣớng này xã hội học coi văn học là một trong những đối tƣợng đặc thù đƣợc đánh giá. Còn ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến xã hội học văn học với tƣ cách là là một phƣơng pháp có khuynh hƣớng phát triển thành một lý thuyết phê bình có thể nghiên cứu và chỉ ra mối quan hệ giữa văn bản văn học và xã hội.
Những nghiên cứu của các nhà Marxist từ L. Goldmann đến Ch. Caudwell đã phân tích các vấn đề của phản ánh luận.Goldman, tính 19 cơ học của phản ánh luận đã đƣợc điều chỉnh. Ông đƣa ra khái niệm "cái nhìn thế giới" (vision du monde).
Qua khái niệm này L. Goldmann cho rằng trong những tác phẩm lớn sự kết tinh của một cách thức cảm nhận và phản ánh thế giới là một hệ giá trị đặc thù của một tầng lớp ngƣời. Còn đối với Ch. Caudwell, những đặc trƣng của phản ánh nghệ thuật đƣợc xem xét theo những bình diện mới.
Với hƣớng nghiên cứu đó vai trò của chủ thể sáng tạo, ngƣời nghệ sỹ đƣợc đề cao. Giá trị đích thực của văn chƣơng không nằm ở hàm lƣợng sự thật cuộc sống đƣợc phản ánh trong tác phẩm mà nó nằm ở những băn khoăn, trăn trở của ngƣời nghệ sĩ với hiện thực. Nhƣ vậy, vai trò của văn học không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là suy tƣ, xúc cảm thẩm mỹ của ngƣời nghệ sĩ trƣớc hiện thực. Với hƣớng này, vấn đề cần giải quyết của ngƣời nghiên cứu không phải là đem những cấu trúc xã hội có sẵn áp vào văn học để xác định số phận của cuộc sống thật đƣợc đem vào tác phẩm, mà quan trọng hơn ngƣời nghiên cứu phải tìm ra đƣợc những cấu trúc chiều sâu của tâm hồn và tƣ tƣởng của ngƣời sáng tác.
Nhƣ vậy, xã hội học văn học là một phƣơng pháp nghiên cứu đầy triển vọng ở cả phƣơng diện lý thuyết và ứng dụng phân tích văn bản. Tại Việt Nam, phƣơng pháp này cũng đã nhận đƣợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu với sự giới thiệu lý thuyết của GS. Phƣơng Lựu, PGS. Đỗ Lai Thúy, PGS.
Đào Duy Hiệp và sự ứng dụng trong nghiên cứu văn học của các nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch, Phùng Ngọc Kiên… Nhận định về khả năng phát triển của xã hội học văn học tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu Lộc Phƣơng Thủy, Phƣơng Ngọc, Phạm Xuân Thạch đều nhất trí đây là một hƣớng nghiên cứu cần đƣợc quan tâm và chắc chắn sẽ đem lại những kết quả đầy hứa hẹn. Luận văn của chúng tôi sử dụng xã hội học văn học để lý giải một phần tiểu sử xã hội của nhà văn, đây là một thao tác quan trọng bởi muốn hiểu đƣợc tác phẩm thì phải 20 hiểu sự chi phối của các yếu tố xã hội đến nhà văn. Đồng thời, xã hội học văn học giúp chúng tôi đọc các tác phẩm và phân tích nhằm tìm kiếm tƣ tƣởng của các nhà văn về xã hội và văn hóa đƣợc mã hóa bằng ngôn ngữ văn chƣơng trong các tác phẩm chứ không nhằm mục đích đánh giá sự điêu luyện của kỹ thuật viết. Hậu thuộc địa và nghiên cứu văn học Về nguồn gốc của chủ nghĩa hậu thuộc địa các nhà nghiên cứu đa số tán thành chủ nghĩa này đƣợc bắt nguồn từ những công trình của Frantz Fanon và Albert Memmi với bối cảnh là trong những cuộc đấu tranh của các nƣớc Bắc Phi giành độc lập từ thực dân Pháp.
Đặc biệt là các công trình phê bình về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thực dân của Fanon. Hai công trình tiêu biểu nhất của Fanon: Da đen Mặt nạ trắng (1952) và Những kẻ khốn cùng của trái đất (1961) đã phân tích về nạn phân biệt chủng tộc và sự đàn áp mà kẻ thực dân thực thi ở xã hội thuộc địa, cuộc sống khốn khổ của ngƣời dân trong các xã hội đã bị thuộc địa hóa. Fanon đã tiến hành các phân tích tâm lý với các cƣ dân thuộc địa để giải thích mặc cảm nhƣợc tiểu của ngƣời da đen trong xã hội thuộc địa với chuẩn mực đƣợc thiết lập bởi ngƣời da trắng. Ông cũng chỉ ra tâm lý hai mặt/ tâm lý nƣớc đôi (ambivalence) của ngƣời dân thuộc địa khi đối diện với mẫu quốc.
Một điểm quan trong nữa là Fanon đã đƣa quan điểm của mình về ý thức dân tộc (national consciousness) trở thành chìa khóa giúp các nƣớc thuộc địa có thể hoàn toàn giải phóng dân tộc mình. Những quan niệm của Fanon về dân tộc (ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc (national spirit), chủ nghĩa dân tộc (nationalism)…, đã đƣợc các nhà lý thuyết hậu thuộc địa về sau kế thừa và phát triển. Tuy nhiên sự ra đời của tác phẩm Đông phương học (1978) của Edward W. Said mới chính là dấu mốc mang tính bƣớc ngoặt để dẫn đến sự ra đời của lý thuyết hậu thuộc địa.
Hiện nay, 21 lý thuyết hậu thuộc địa nhận đƣợc sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau với hƣớng nghiên cứu đa ngành. Đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, có thể thấy rằng hậu thuộc địa là một lý thuyết có khả năng bổ sung về mặt nghiên cứu theo hƣớng ý thức hệ cho phƣơng pháp xã hội học văn học, bởi nó có lợi thế đem tới một điểm tựa vững chắc về mặt lý thuyết để giải thích nhiều vấn đề mang tính xã hội – lịch sử trong những môi trƣờng có tính chất đặc thù nhƣ các nƣớc thuộc địa sau độc lập. Hai trong số những khái niệm của lý thuyết hậu thuộc địa có khả năng ứng dụng trong nghiên cứu văn học đƣợc chúng tôi sử dụng trong luận văn này là khái niệm tính lai ghép (hybridity) và tính hai mặt (ambivalence). Tính lai ghép là một trong những nội dung chủ yếu đƣợc trình bày trong lý thuyết Hậu thuộc địa.
Các nhà lý thuyết hậu thực dân/ thuộc địa đã tiếp nhận và tái phổ biến (repopularize) tính lai ghép và áp dụng vào việc tìm hiểu văn học và văn hóa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh – những vùng đất đã từng là thuộc địa và cả những cộng đồng lƣu vong. Trong các lý thuyết gia về tính lai ghép hiện nay thì Homi Bhabha đƣợc coi là một trong những tên tuổi nổi bật nhất, đƣợc nhắc đến nhiều nhất và lý thuyết của ông cũng đƣợc nhiều ngƣời áp dụng nhất. Lý thuyết của ông đƣợc xuất phát từ sự phê phán với chủ nghĩa hậu thực dân (postcolonial cricticism). Bhabha chuyên nghiên cứu về khía cạnh tâm lý và văn học, ông tập trung vào tính lai ghép trong chính trị văn hóa (cultural polictics).
Ông tin rằng tính lai ghép đƣợc hình thành từ sự giao tiếp giữa thực dân và dân chúng ở các thuộc địa. Sự lai ghép, theo Homi Bhabha, là một quá trình mà trong đó nhà cầm quyền thực dân âm mƣu phiên dịch lại bản sắc của kẻ bị trị nhƣ một cái Khác (the Other) trong một khung lý thuyết mà họ cho là có giá trị phổ quát nhƣng cuối cùng âm mƣu ấy thất 22 bại, thay vào đó một cái gì đó vừa quen thuộc lại vừa mới lạ ra đời nhƣ một thứ tự sự đối ngƣợc (counter narrative) với những điển phạm ở Tây Phƣơng. Điều quan trọng [mà chúng ta] cần chú ý là với Bhabha thì lai ghép không phải là một sự vật, một cái gì đã hoàn tất và tĩnh tại, mà là một quá trình: lai ghép đối đầu với logic thống trị của diễn ngôn quyền lực và mở ra một không gian thứ ba (third space) hay không gian của cái thứ ba (space of thirdness) ở đó ý nghĩa luôn luôn ở - giữa không phải cái/chỗ này mà cũng không phải cái/chỗ khác và không bao giờ ổn định [97; 36-9]. Thực chất, quá trình lai ghép là quá trình diễn ra liên tục bởi sự giao lƣu tiếp xúc của con ngƣời trong các môi trƣờng văn hóa khác nhau dẫn đến sự tiếp biến văn hóa.
Chỉ có các cộng đồng văn hóa thuần khiết nhất với sự tuyệt đối không trao đổi và giao lƣu mới có thể không xảy ra quá trình lai ghép trong suốt lịch sử. Việt Nam là một quốc gia có sự lai ghép văn hóa từ rất lâu đời. Những dấu vết đầu tiên của sự lai ghép trong văn hóa Việt Nam có thể tìm thấy trong thần thoại và truyền thuyết của cả ngƣời Kinh – Việt và các dân tộc khác. Truyền thống về dòng dõi của dân tộc Việt Nam là một minh chứng xác đáng của sự lai ghép, những tổ tiên đầu tiên của ngƣời Việt là kết quả của cuộc hôn phối giữa hai loài – đại diện cho hai nền văn hóa khác biệt: Lạc Long Quân – giống Rồng đại diện cho văn hóa sông nƣớc đồng bằng ven biển và Âu Cơ – giống Tiên đại diện cho văn hóa của vùng trung du và miền núi.
Ẩn sâu trong truyền thuyết là một quá trình lai ghép, sáp nhập, thậm chí có cả thôn tính của hai bộ lạc/tộc ngƣời để tạo ra một dân tộc, một nền văn hóa mới với sự lên ngôi của Hùng Vƣơng – ngƣời con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Khởi nguồn của dân tộc đã vậy, trong suốt lịch sử của mình dân tộc Việt chƣa bao giờ ngừng có sự trao đổi văn hóa với các nền, vùng văn hóa xung quanh và dĩ nhiên là quá trình lai ghép văn hóa chƣa bao giờ ngừng lại.