phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chất lƣợng tín dụng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bắc Giang 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Ngân hàng thƣơng mại Đóng vai trò là một trong những lọai hình tổ chức có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và cộng đồng, Ngân hàng là một khái niệm không còn xa lạ với nhiều ngƣời. Tuy nhiên, để phân biệt ngân hàng với các tổ chức phi ngân hàng lại là một phạm trù khác, phụ thuộc rất nhiều vào sự khác biệt trong nhận thức, văn hóa tập quán, quan điểm,.
ở từng đất nƣớc, khu vực. Theo quan điểm dựa trên tính pháp lý của Quốc hội Hoa Kỳ, ngân hang đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Đứng từ góc độ của bộ luật ngân hàng Pháp, họ định nghĩa Ngân hàng “là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Trong khi đó, tại Ấn Độ, hệ thống pháp luật định nghĩa “NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tƣ”.
Đứng trên quan điểm của nhà nghiên cứu, tác giả, giáo sƣ Peter Rose lại định nghĩa “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Riêng đối với Việt Nam, khái niệm NHTM lần đầu tiên đƣợc đề cập tại Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1998 dƣới dạng Ngân hàng chuyên doanh. Tuy nhiên hiện nay, theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành năm 2010 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011 thì: “TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và 7 quỹ tín dụng nhân dân”.
“Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nhƣ vậy thông qua một số khái niệm về NHTM, ta có thể hiểu đây là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ với mục tiêu thu lợi nhuận, và nó có những đặc trƣng nhƣ sau: - Là một TCTD - Đƣợc phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả. - Đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
Điều này khác với TCTD phi ngân hàng. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo tiếng La tinh, tín dụng có nghĩa là sự tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau. Nhƣ vậy, để tạo điều kiện cho tín dụng tồn tại thì phải xác lập đƣợc niềm tin. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị dƣới hình thái là tiền hay hiện vật từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một lƣợng giá trị lớn hơn theo thoả thuận.
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010, thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tại các NHTM Việt Nam, việc cấp tín dụng dƣới hình thức cho vay là hoạt động mang lại tỷ trọng thu nhập cao và sử dụng vốn nhiều nhất trong các hoạt động. Do vậy đề tài này tập trung nghiên cứu nâng cao chất lƣợng tín dụng dƣới hình thức cho vay của các NHTM. 8 Phân loại tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ - Tín dụng bán buôn (TDBB): là các khoản cấp tín dụng cho khách hàng là tổ chức, công ty, định chế tài chính với số vốn lớn.
- Tín dụng bán lẻ (TDBL): là khoản cấp tín dụng hƣớng tới khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh và các doanh nghiệp nhỏ và vừa với giá trị của khoản vay nhỏ. Phân biệt giữa tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ Chỉ tiêu phân biệt TDBB TDBL Các định chế tài chính, Cá nhân, hộ gia đình, hộ Khách hàng doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh hoặc doanh có quy mô lớn. nghiệp nhỏ và vừa. Giá trị từng giao dịch Lớn Nhỏ Số lƣợng khách hàng Ít Nhiều Cần phải có thời gian dài Tăng trƣởng hoặc giảm Thực hiện rất dễ dàng hơn để tăng hoặc giảm quy quy mô và nhanh chóng mô Số lƣợng sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung Ít Nhiều cấp Rất dễ tập trung rủi ro Phân tán rủi ro vào số vào một vài khách hàng lƣợng khách hàng lớn và Mức độ rủi ro và số nhiều ít ngành nghề ngành nghề Chi phí bình quân từng Nhỏ Lớn giao dịch Thu nhập do từng khách Lớn Nhỏ hàng mang lại Phức tạp, tốn nhiều thời Quy trình cho vay Đơn giản, nhanh gọn gian và công sức (Nguồn: Trích dẫn theo quy trình tín dụng của Vietcombank, 2019) 1.
Khái niệm chất lƣợng tín dụng Đóng vai trò là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng trong bối cảnh toàn cầu hóa, các hoạt động tín dụng đồng thời cũng là nhóm tiềm ẩn nhiểu rủi ro nhất. Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2001: “Chất lƣợng là toàn bộ các đặc tính của một hàng hoá, dịch vụ đáp ứng đƣợc yêu 9 cầu của ngƣời mua. Vật liệu, kiểu dáng và kỹ thuật chế biến là những đặc điểm quan trọng của chất lƣợng sản phẩm, ảnh hƣởng tới sự tiêu dùng sản phẩm đó”. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể phủ nhận tầm quan trọng của CLTD đối với sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng.
Thông thƣờng, CLTD sẽ đƣợc đánh giá trên 3 khía cạnh nhƣ sau: - Từ góc độ của khách hàng: Trên thực tế, khách hàng là đối tƣợng sử dụng chính của hầu hết các dịch vụ của ngân hàng, bao gồm cả các dịch vụ tín dụng vì nó đƣợc coi nhƣ nguồn vốn quan trọng với nhóm khách hàng doanh nghiệp. Khách hàng doanh nghiệp thƣờng mong muốn tối đa hóa giá trị khoản vay để có lợi nhất cho công cuộc kinh doanh riêng. Do vậy, từ góc nhìn của khách hàng, lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phƣơng thƣc giải ngân và thu nợ của các khoản tín dụng chính là những tiêu chí để đánh giá CLTD của một ngân hàng. Nếu tất cả các yếu tố này đều đƣợc thỏa mãn và giúp khách hàng có thể nhận đƣợc khoản vay một cách nhanh chóng, tiện lợi nhất thì họ sẽ đánh giá cao CLTD của ngân hàng và ngƣợc lại.
Có thể tóm tắt quan niệm của khách hàng về CLTD là sự thoả mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ. - Từ góc độ xã hội: Từ góc độ xã hội, có thể định nghĩa “CLTD là sự đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà các khoản tín dụng của Ngân hàng đem lại”. Theo đó, Ngân hàng có thể xem xét và cấp các khoản tín dụng cho các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế nhằm thực hiện các hoạt động phát triển có chiều sâu và bền vững. - Từ góc độ của Ngân hàng Hoạt động trên nguyên lý cơ bản nhƣ những loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, Ngân hàng luôn chú trọng tới các hoạt động kinh doanh giúp gia tăng thu nhập cho tổ chức.
Tuy nhiên, với Ngân hàng, chỉ có 3 nghiệp vụ cốt lõi là nhận gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Do đó, xét từ góc độ của Ngân hàng, CLTD đƣợc đánh giá dựa trên hai yếu tố chính là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Mối quan hệ biện chứng giữa mức độ an 10 toàn và khả năng sinh lời của các hoạt động tín dụng chính là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng. Thực tế, hơn 50% số tiền mà Ngân hàng cho vay là nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu do đó tính rủi ro của các hoạt động cấp tín dụng càng cao hơn gấp bội, đòi hỏi Ngân hàng phải cân nhắc kĩ lƣỡng trƣớc khi quyết định để giảm thiểu tối đa tình trạng mất khả năng thanh toán.
Nói tóm lại, có thể hiểu với Ngân hàng thì “CLTD là một thuật ngữ phản ánh mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng Ngân hàng” 1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng tín dụng ngân hàng có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lƣợng tín dụng ngân hàng, nhƣng gộp chung lại có thể phân thành các nhóm nhân tố chính sau: - Môi trƣờng bên ngoài - Môi trƣờng bên trong (nội bộ) 1. Các nhân tố môi trƣờng bên ngoài Từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm diễn ra vào năm 2008-2009, tiền tệ quốc tế đã có những diễn biến phúc tạp nhất vào năm 2019 do hệ quả của sự suy thoái trong nền kinh tế Trung Quốc cũng nhƣ những tác động tiêu cực của nó đến tâm lý thị trƣờng tài chính-tiền tệ quốc tế tại nhiều thị trƣờng vào những tháng cuối năm 2019. Tháng 8-2019 đã chứng kiến sự phá giá liên tiếp của đồng Nhân dân tệ dù Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã tuyên bố đồng này đủ điều kiện vào giỏ tiền tệ quốc tế.