phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra giám sát các ngân hàng thƣơng mại tại Ngân hàng nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát các Ngân hàng thƣơng mại tại Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Xiêng Khoảng Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra giám sát các ngân hàng thƣơng mại tại Ngân hàng nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Xiêng Khoảng. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan về Ngân hàng Nhà nƣớc 1. Khái niệm Ở mỗi quốc gia, ngân hàng trung ƣơng c thể có những tên gọi khác nhau xuất phát từ các yếu tố lịch sử, sở hữu, thể chế chính trị.
Chẳng hạn nhƣ, theo hình thức sở hữu, ngân hàng Trung ƣơng c tên gọi là ngân hàng nhà nƣớc nhƣ tại Việt Nam, tại CHDCND Lào; Ngân hàng quốc gia (Mônđôva, Iran, Hunggari). Theo tính chất, chức năng, ngân hàng c thể đƣợc gọi tên là ngân hàng trung ƣơng (Liên bang Nga), ngân hàng dự trữ (Nam phi), Hệ thống dự trữ liên bang (Mỹ) hoặc có thể chỉ là những tên gọi có tính chất lịch sử và kế thừa nhƣ Ngân hàng Anh, Ngân hàng Pháp, Ngân hàng Nhật Bản… Dù tên gọi c khác nhau nhƣng bản chất ngân hàng trung ƣơng hầu nhƣ giống nhau, có những điểm tƣơng đồng và xuất phát từ những nguyên tắc tổ chức chung nhất. Phần lớn luật về ngân hàng của các quốc gia đều đƣa ra khái niệm về ngân hàng trung ƣơng hoặc thông qua những quy phạm pháp luật xác định đặc điểm, chức năng để thể hiện khái niệm về ngân hàng trung ƣơng. Một cách chung nhất, ngân hàng Trung ƣơng đƣợc hình dung nhƣ sau: - Ngân hàng Trung ƣơng là một cơ quan nhà nƣớc thực hiện chức năng quản l nhà nƣớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
- Ngân hàng Nhà nƣớc là một định chế hành chính thực hiện chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ và cho hệ thống các tổ chức tín dụng. - Ngân hàng Trung ƣơng không lấy mục đích lợi nhuận làm hàng đầu. 7 - Ngân hàng Trung ƣơng là cầu nối giữa chính phủ với nền kinh tế, giữa thị trƣờng tài chính, tiền tệ trong nƣớc và ngoài nƣớc, các tổ chức tài chính quốc tế. Tại Lào, cũng giống nhƣ Việt Nam, ngân hàng Trung ƣơng đƣợc gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc, khái niệm Ngân hàng Nhà nƣớc đƣợc thể hiện nhƣ sau: "Ngân hàng Nhà nước Lào là một tổ chức quản lý nhà nước ở cấp trung ương trong bộ máy chính phủ.
Đây là tổ chức tài chính của nhà nước và Ngân hàng Trung ương của Nước Cộng Hòa, có tư cách pháp nhân độc lập" (Ngân hàng Nhà nƣớc CHDCND Lào, 2018). Chức năng của Ngân hàng Nhà nước 1. Chức năng ngân hàng của quốc gia Chức năng là ngân hàng của quốc gia của NHNN đƣợc thể hiện ở các nhiệm vụ sau đây: Một là, Ngân hàng phát hành tiền Ngân hàng trung ƣơng đƣợc giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc đƣợc chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lƣu thông tiền tệ của quốc gia. Đồng tiền do NHNN phát hành là đồng tiền lƣu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cƣỡng chế lƣu hành, vì vậy mọi ngƣời không có quyền từ chối nó trong thanh toán.
Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHNN trong việc xác định số lƣợng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng nhƣ phƣơng thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế (Nguyễn Xuân Anh, 2013). Hai là, Ngân hàng của các ngân hàng Ngân hàng trung ƣơng không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian. Bao gồm: 8 - Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian - NHNN nhận tiền gửi từ các ngân hàng trung gian dƣới hai dạng sau: Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Là khoản tiền dự trữ mà các ngân hàng trung gian bắt buộc phải gửi tại NHNN để nhằm đảm bảo khả năng chi trả của các ngân hàng này trƣớc nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. Tiền gửi thanh toán: Ngoài khoản dự trữ bắt buộc, các ngân hàng trung gian còn phải duy trì thƣờng xuyên một lƣợng tiền gửi trên tài khoản tại NHNN cho các nhu cầu chi trả trong thanh toán với các ngân hàng khác trong cùng hệ thống hoặc đáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHNN , chẳng hạn các khoản chi trả liên quan đến các khoản vay từ NHNN.
Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian: NHNN cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dƣới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Ba là, Ngân hàng của chính phủ Là một định chế tài chính công cộng, NHNN đã đƣợc xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHNN c nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, đồng thời làm đại l , đại diện và tƣ vấn chính sách cho chính phủ (Nguyễn Duệ, 2005). Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nƣớc thông qua quản lý tài khoản của kho bạc.
Tuỳ theo đặc điểm tổ chức của từng nƣớc, chính phủ có thể uỷ quyền cho Bộ tài chính hoặc Kho bạc đứng tên chủ tài khoản tại NHNN. Hàng ngày, các khoản thu của nhà nƣớc dƣới dạng thuế, lợi nhuận hoặc khoản thu khác đƣợc gửi vào tài khoản này. NHNN có trách nhiệm theo dõi, chi trả, thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của kho bạc và sử dụng số dƣ đ khi nhàn rỗi tƣơng tự nhƣ tài khoản của khách hàng tại một ngân hàng trung gian. Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ƣơng của một ngân hàng phát hành.
Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHNN (Nguyễn Duệ, 2005). Một là, Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đ NHNN sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lƣợng tiền trong lƣu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đ y sự tăng trƣởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm. Chính sách tiền tệ có thể đƣợc hoạch định theo một trong hai hƣớng sau: Chính sách tiền tệ mở rộng: nhằm tăng lƣợng tiền cung ứng để khuyến khích đầu tƣ, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Mục đích của chính sách lúc này là chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: nhằm giảm lƣợng tiền cung ứng để hạn chế đầu tƣ, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Mục đích của chính sách lúc này là chống lạm phát. Hai là, Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng Với tƣ cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đ , NHNN còn thực hiện vai tr điều tiết, giám sát thƣờng xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những ngƣời gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng. - Đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng: Khác với các tổ chức kinh doanh khác, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ cần thiết phải đƣợc kiểm soát và điều tiết chặt chẽ vì: Các ngân hàng đảm nhiệm vai tr đặc biệt trên thị trƣờng tài chính nói 10 riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung: nó là kênh chuyển giao vốn từ tiết kiệm đến đầu tƣ, là công cụ của chính phủ trong việc tài trợ vốn cho các mục tiêu chiến lƣợc; hoạt động của các trung gian tài chính, đặc biệt là các tổ chức nhận tiền gửi, có ảnh hƣởng quyết định đến việc điều hành chính sách tiền tệ.
Hoạt động của các ngân hàng liên quan đến hầu hết các chủ thể kinh tế trong xã hội nên sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của ngƣời gửi tiền đồng thời đến toàn hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng có mối liên hệ và phụ thuộc với nhau chặt chẽ thông qua các luồng vốn tín dụng luân chuyển và thông qua hoạt động của hệ thống thanh toán. Chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngân hàng cũng sẽ gây nên vấn đề về tính thanh khoản của cả hệ thống. Mặt khác, sự sụp đổ của ngân hàng sẽ gây kh khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời ảnh hƣởng tới quyền lợi của ngƣời gửi tiền.
Bản chất hoạt động của các ngân hàng là chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro sẽ tăng lên khi các ngân hàng c xu hƣớng chạy theo lợi nhuận làm phƣơng hại đến quyền lợi của ngƣời gửi tiền. Nguyên tắc hoạt động của các ngân hàng là đi vay ngắn và cho vay dài. Bảng tổng kết tài sản của nó luôn chứa đựng mức rủi ro tiềm năng do chênh lệch về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, giữa yêu cầu thanh khoản và mong muốn sinh lời tối đa.
Vì thế sự điều tiết chặt chẽ và giám sát thƣờng xuyên của NHNN sẽ ngăn cản xu hƣớng chạy theo lợi nhuận quá mức, đ y ngân hàng vào tình trạng rủi ro và phá sản. Sự tồn tại và phát triển của các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng phụ thuộc vào lòng tin của công chúng với tƣ cách là ngƣời gửi tiền. Một sai sót nhỏ trong quá trình kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngân hàng cũng c thể gây nên sự nghi ngờ có tính chất lan truyền. Điều này thật 11 sự đe doạ sự tồn tại của các ngân hàng.
- Bảo vệ khách hàng: Chức năng thanh tra, giám sát của NHNN còn nhằm đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ giữa ngân hàng và các khách hàng.