CHƯƠNG 1 THỜI ĐẠI, CON NGƯỜI NGÔ THÌ NHẬM VÀ KIỂU TÁC GIẢ NHÀ NHO HÀNH ĐẠO TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Thời đại Ngô Thì Nhậm 1. Sự suy tàn của chế độ phong kiến và cách ứng xử của các nhà nho Suốt hơn 10 thế kỉ, có thể nói, các giai đoạn thịnh – suy và lẽ hưng – phế của các triều đại phong kiến Việt Nam tồn tại nối tiếp nhau từ khi Ngô Quyền xưng vương cho đến khi Bảo Đại thoái vị. Những cuộc thay ngôi đổi chủ liên tiếp diễn ra là kết quả cho sự xuất hiện của những vương triều mới.
Thế kỉ XV - thế kỉ của sự phát triển cực thịnh của xã hội phong kiến Việt Nam, nhưng khi bước sang giai đoạn thế kỉXVI– XVII, chế độ phong kiến Việt Nam đã có những dấu hiệu suy thoái. Nhất là giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX,chưa bao giờ chế độ phong kiến Việt Nam lại bộc lộ rõ bản chất thối nát, mục ruỗng một cách trắng trợn và lộ liễu trên nhiều lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị, ngoại giao đến văn hóa, tư tưởng… Trên lĩnh vực kinh tế, nền nông nghiệp vốn lạc hậu nhưng nạn chiếm đoạt ruộng đất từ quan lại và địa chủ vẫn không thôi diễn ra liên miên.Chiến tranh cát cứ và chính sách bảo thủ của chế độ phong kiến đã làm cho nền sản xuất hàng hóa vốn nảy nở từ trước, giờ đây lại thêm đình đốn, trì trệ. Các nhà sử học đã xác đáng khi kết luận rằng: “Quan hệ sản xuất phong kiến đã trở thành vật chướng ngại trên con đường tiến lên của sức sản xuất, chế độ phong kiến đã đối lập với sự phát triển của xã hội” [48; tr 36]. Tuy nhiên đến thời Tây Sơn, dưới sự cai trị của hoàng đế Quang Trung, ít nhiều nền kinh tế đã có những dấu hiệu của sự tiến bộ vượt bậc khi ông ban chiếu “khuyến e 10 nông”, đề nghị nhà Thanh mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngưng đọng để làm lợi cho sự tiêu dùng của nhân dân.
Thế nhưng vương triều Tây Sơn cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi. Khi Gia Long lên ngôi, về cơ bản, quốc gia Việt Nam vẫn là một đất nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, bộ máy chính quyền phong kiến đã có sự lũng đoạn. Vua chúa chỉ biết ăn chơi sa đọa, không chăm lo đến việc trị quốc.
Quyền bính với vua Lê chỉ là bù nhìn, bởi nó tập trung vào tay chúa Trịnh. Những bạo chúa khét tiếng tàn ác, dâm ô, lộng quyền như Trịnh Giang, Trịnh Sâm cùng những quyền thần, quý thích chuyên vơ vét và làm những điều xằng bậy trước nhân dân như Trương Phúc Loan hay Đặng Mậu Lân,. đã gây ra sự rối ren, hỗn loạn về chính trị, xã hội dẫn đến sự mâu thuẫn, tranh chấp mạnh mẽ trong giai cấp và hàng ngũ phong kiến. Các tập đoàn, phe phái phong kiến chém giết lẫn nhau để giành ngôi vị như Lê – Trịnh, Trịnh – Nguyễn, Trịnh Tông – Trịnh Cán hay chuyện chúa phế trưởng lập thứ… Chỉ trong khoảng 200 năm: từ giữa thế kỉ XVI cho đến nửa cuối thế kỉ XVIII, các cuộc nội chiến “nồi da xáo thịt” diễn ra liên miên, cuộc chiến không cân sức khi không phe nào có được sự chính nghĩa đã dẫn đến cảnh “sông máu, núi xương”.
Đau đớn hơn phải kể đến nỗi nhục quốc thể khi Lê Chiêu Thống cầu viện Nhà Thanh “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ” để bảo vệ cho chiếc ngai vàng đang ngày càng lung lay của mình. Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi lại mối quan hệ giữa Lê Chiêu Thống và tướng Tôn Sĩ Nghị nhà Thanh: “Tuy là hoàng thượng được phong vương nhưng giấy tờ được đưa đi các nơi vẫn viết niên hiệu Càn Long, vì Nghị còn ở đấy nên không dám viết niên hiệu Chiêu Thống và ngày ngày tan buổi chầu, ngài (chỉ Lê Chiêu Thống) tự đến dinh Nghị chờ nghe việc quân quốc… Nghị cũng ngông nghênh tự đắc, hoàng thượng đến dinh có khi Nghị không buồn tiếp chỉ cho người e 11 đứng trên linh các truyền rằng: Nay không có việc quân quốc, hãy về cung nghỉ” [21; tr 57]. Trước những biến đổi về thực tế lịch sử, sự suy vong của đất nước đã đặt ra cách hành xử của những kẻ thức giả mà đại biểu là những nhà nho mẫu mực. Thái độ của nho sĩ qua sáng tác văn chương và con đường hoạn lộ là một minh chứng xác đáng thể hiện rõ nỗi lòng ưu tư trước tình cảnh đất nước.
Trong sáng tác văn chương, mặc dù có sự góp mặt của nhiều bậc trí giả vương tôn, những đại thần đắc ý, hanh thông trên con đường hoạn lộ nhưng đa số những nho sĩ mang trong mình tâm sự “ưu thời mẫn thế” mới thực sự đem lại những tác phẩm để đời với nhiều nỗi lòng thế sự như Truyện Kiều, Phạm Tải– Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa,… Những cuộc tranh giành quyền lực lan vào phủ chúa, cung vua đã khiến cho các nho sĩ trí thức xuất thân từ “công hầu khanh tướng” đã bị ném ra khỏi chốn “lầu son gác tía” để nếm trải bao nỗi vất vả, đắng cay trong cuộc sống đói rét, bệnh tật như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Phạm Nguyễn Du, Phạm Quý Thích,… Minh chứng mà độc giả dễ thấy là cuộc đời mười năm gió bụi đầy nỗi niềm phấp phỏng âu lo của một con người “sinh bất phùng thời”như Nguyễn Du: “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên/ Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên” (Tạp thi, Bài thứ nhất). Chính những biến động dữ dội từ “những điều trông thấy”, các nhà nho sẽ ít nhiều rời xa lập trường chính thống của Nho giáo. Mặc dù ít nhiều đã tách rời lập trường chính thống nhưng họ vẫn không quay lưng với hiện thực, tìm đến con đường ẩn dật một cách hoàn toàn như nho sĩ Đào Tiềm. Bởi căn nguyên sâu xa họ vốn dĩ là những đệ tử của cửa Khổng, sân Trình; lại xuất thân trong những gia đình quý tộc, hưởng bổng lộc dưới nhiều triều đại, cho nên các nho sĩ dễ bị níu kéo bởi quyền lợi giai cấp và lập trường chính thống.
Hơn nữa, chế độ phong kiến đang bị phá sản nhưng lịch e 12 sử lại chưa có một phương thức sản xuất tiên tiến hơn để thay thế, vì vậy nhà nho cũng thực sự rơi vào bi kịch bế tắc. Trước những biến động lớn lao của lịch sử - xã hội, các nho sĩ vốn dĩ là những người thức giả cho nên thái độ chính trị và nhận thức của họ cũng có những biến hóa linh hoạt. Chữ trung theo Tống Nho là lý tưởng “trung thần bất sự nhị quân” nhưng với sự xuất hiện của vương triều Tây Sơn, dù nhiều tri thức từng làm quan dưới thời Lê - Trịnh, đến giờ đây, họ lại được triệu tập dưới ngọn cờ của nghĩa quân Tây Sơn. Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có chép: những người không ra làm quan với Quang Trung vẻn vẹn chỉ còn 7, 8 người.
Triều đại Tây Sơn đã thu nhận rất nhiều sĩ phu Bắc Hà bởi một phần họ khâm phục cái đại tài trong cuộc chiến công vệ quốc và chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” của vua Quang Trung. Có những trường hợp mang lập trường kiên định “từ bỏ áo mũ”, kiên quyết bất hợp tác và chống Tây Sơn như Trần Danh Án, Hoàng Quang, Lê Duy Đản, Lê Huy Giao, Phạm Thái… Như vậy, đến đây, tư tưởng trung quân không còn cứng nhắc với các nho sĩ. Những nhân cách tiết tháo, chính nghĩa, vì lợi ích của dân tộc đã nhận thấy quyền lợi của nhân dân, của dân tộc chỉ có thể do nhà Tây Sơn mang lại là điều tất yếu khách quan. Đến nỗi một nho sĩ mẫu mực chân chính như Nguyễn Thiếp từng ẩn cư an nhàn nơi hang cùng xóm vắng vậy mà vẫn nhận lời vua Quang Trung ra giữ chức Viện trưởng viện Sùng Chính.
Hay Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, đặc biệt là Ngô Thì Nhậm từng giữ nhiều trọng trách và từng được vua Lê chúa Trịnh trọng dụng, thế mà những nho sĩ này vẫn là những cộng sự đắc lực cho vương triều Tây Sơn trong công cuộc trị quốc, bang giao. Như vậy, có thể thấy, trước tình hình thực tế đầy biến động rối ren, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII, sự phản ứng trong thái độ của các sĩ phu, nhất là con đường hoạn lộ nhập – xuất qua hai khuynh hướng hành đạo – ẩn dật như là một sự tự vận động thiết yếu. Mặc dù chưa hoàn toàn dứt bỏ hẳn e 13 sự trói buộc của ý thức hệ phong kiến nhưng các nho sĩ không giấu được tâm trạng bất mãn, u uất trước nhân tình thế thái. Tuy nhiên trong sự nhận thức tương quan với thời cuộc khi sơn hà nhiều phen thay ngôi đổi chủ, nhìn chung thái độ và lập trường của các nho sĩ thời kỳ này vẫn ngả về lợi ích thiết thân của quần chúng nhân dân.
Sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ phong kiến và thái độ bất bình của các nho sĩ chính là một hệ quả tất yếu dẫn đến một cuộc đảo chính toàn thắng chống lại giai cấp thống trị của giai cấp nông dân. Sự trỗi dậy của phong trào nông dân khởi nghĩa và trào lưu, tư tưởng nhân văn Sự trỗi dậy của phong trào nông dân khởi nghĩa là một biểu hiện minh chứng cho một kiểu nhà nước cần thay thế, bởi nó đi ngược lại với những phương thức sản xuất lỗi thời, lạc hậu. Khi tình hình kinh tế và chính trị nhà nước phong kiến đang dần tiến đến vực thẳm của sự diệt vong, có lẽ chỉ giai cấp nông dân mới chính là người đào huyệt và chôn sống cái chế độ lỗi thời lạc hậu này. Như được biết, thế kỉ XVIII là “thế kỉ nông dân khởi nghĩa”.
Mặc dù các sử gia phong kiến cố tình xuyên tạc tính chất chính nghĩa và gán cho những phong trào này là “trộm cướp” hay “giặc cỏ” nhưng họ vẫn không che giấu được thực trạng xã hội đen tối, đáng báo động lúc bấy giờ. Sách Việt sử thông giám cương mục có chép:“Chính sự trái ngược, thuế khóa nặng nề, lòng người mong mỏi cho chóng loạn lạc và trộm cướp các xứ nổi lên như ong, các trạm báo tin không được nhanh chóng, bèn hạ lệnh cho các lộ Sơn Tây, Thanh Hoa đều đặt đồn hỏa hiệu ở trên đỉnh núi, bắt dân sở tại ngày đêm canh giữ, nếu có sự gì nguy cấp thì đốt lửa thông báo về triều”.