Phần mở đầu - Phần nội dung. Tổng quan tải liệu + Chương 2. Đồi tượng, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Kết quả và bàn luận ~ Phần kết luận và kiến nghị ~ Danh mục tài liệu tham khảo ~ Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.
Téng quan về loài Phaenthus vietnamensis 1. Đặc điễm, phân loại Tén khoa hoc: Phaeanthus vieInamensis Ban Tên tiếng Việt: Cây thuốc Thượng; thuốc mọi; thuốc dấu cà doong; da xà lắc. Cây thuốc Thượng được phân loại như sau Nhánh: Basal Angiosperms Nhánh: Magnoliids — Ngọc Lan Bộ: Magnolialex — Ngọc Lan Họ: Annonaceae = Na Phân ho: Malmeoideae Tông: Miliusese Chi: Phaeanthus Hook. &Thomson Loài: Phaeanthus viernamensis Ban Thuốc Thượng là cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao chừng 2-10m.
Cành non, gan như không lông. Lá thuôn hoặc gần hình mác, dài 9-16cm, rộng 3-7cm, chóp lá thường thành mãi đài và nhọn, gốc lá hình nêm và hơi lệch; gân bên 9 - 11 đôi, nỗi rõ ở mặt dưới, cong hình cung và hơi vấn hợp ở gần mép; cuống lá dài 5 - 6mm, không có lông. Hoa mọc so le với lá, thường thành xim 2 - hoa; cuống chung dài 1 - 1,5cm; cuống hoa đài 1,5 - 3em, mang 4 - 6 lá bắc nhỏ. Lá đài và cánh hoa ngoài gần giống nhau, hình mác, đài trên 1 mm; cánh hoa trong màu vàng (khi già trở nên trắng), hình trứng, dài 8 - 12mm, rộng 4 - 6mm, dính nhau bởi mép từ gốc tới đỉnh.
Nhị nhiều; mào trung đới hình đĩa hơi nhọn đầu. Lá noãn nhiều; bầu có lông; núm nhụy hình đầu, có lông, không có vòi nhụy. Noãn 1, bao phấn đính gốc. Phân quả hình trái xoan, cỡ 12 - 15 x 6 ~ 7mm, khi chín màu vàng sau đó thành màu mận chín; cuống phân quả dài 13 - 15mm; vỏ quả rất mỏng [18] Hình 1.
Cây thuéc Thuong (Pheanthus vietnamensis Ban)(620x429) 1. Phân bỗ Trung Bộ Việt Nam: Thừa Thiên - Huế (Phú Lộc), Quảng Nam (Đại Lộc, Quế Sơn, Núi Thành, Duy Xuyên, Tiên Phước, Phước Sơn, Đông Giang) [18] 1. Đặc điểm sinh học, sinh thái Cây ra hoa từ tháng 5 đến tháng 12, có quả tháng 6 đến thang | nim sau. Moc rải rác dưới tán rừng thưa, rừng thứ sinh nơi ẩm, ở độ cao dưới 300m [18] 1.
Cong dung Bộ phận dùng là lá, vỏ thân, vỏ rễ. Thuốc Thượng có vị đắng; có tác dụng hoạt huyết, giảm đau, tiêu viêm, kháng khuẩn, sát trùng, có thể hạ đường hu ; chủ trị viêm loét dạ đày, nhiễm trùng đường ruột, co thất đại tràng, hen phế quản. Dân gian dùng lá non trị đau mắt. Vỏ rễ, vỏ thân và lá đem nấu cao dán mun nhot sung tay.
Hoặc cao đặc chế từ lá chữa bệnh tiêu chảy [18]. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần hóa học và hoạt tính sinh hge cia chi Phaenthus 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chỉ Phaeanthus được bắt đầu từ năm 1968. Các nghiên cứu trên thế giới về thành phần hóa học của chỉ Phaeanthus cho thấy loài này có chứa các chất thuộc nhóm alkaloid, các hợp chất như phaeanthine, phacantharine, argentinine, limacine; ngoài ra còn có tỉnh dầu.
Johns và cộng sự đã đã phân lập được hai hợp chất phacanthine và limacine từ lá và vỏ cây của loài này 6 [28]. Van-Beek đã phân lập được hợp chất phacanthine và phaeantharine từ lá và vỏ cây loài Phaeamhus ebracreolarus. Năm 1990, từ loài Phaeanthus crassipetalus Fasihuddin và cộng sự cũng phân lập được hai hợp chất phaeathine và limacine [25]. Đến năm 2007, Khalijah Awang cùng các cộng sự đã chiết tách được 2 alkaloid seco-benzylisoquinoline mới là pecrassipine A và pecrassipine B cùng với 7 alkaloid đã biết: (-)-O-methyldauricine, (-)-limacine, +(-) vietnamine, doryphornine methyl ether, thalifoline, lanuginosine, (+)-limacusine từ vỏ.
cy cua loai Phaeanthus crassipetalus [29]. Tiếp đến năm 2011, Pei Jean Tan và các cộng sự đã xác định được cấu trúc của một hợp chất mới li 7-formyl-151- hydroxypurpurin-7-lactone methyl ester và phân lập được năm hợp chất: pheophorbide-u, pheophorbide-œ methyl ester, 13°hydroxylpheophorbide-œ methyl ester, pheophytin-a, va 15'-hydroxypurpurin-7-lactondimethyl ester từ loài Phaeanthus ophthalmicus [39]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hoạt tính sinh học các loài thuộc chỉ Phaeanthus còn khá ít. Các alkaloid phân lập từ chỉ Phaeanrhus có khả năng điều trị vết thương, và chữa các bệnh huyết áp.
Một số báo cáo đã cho thấy một số hoạt tính sinh học của các dịch chiết từ một số loài thuộc chi này như tính kháng khuẩn; gây độc tế bào ức chế tế bào ung thư; chống oxi hóa. Năm 2011, Pei Jean Tan và các cộng sự đã báo cáo khả năng ức chế các tế bảo ung thư HL60 của các photosensitisers từ dịch chiết loài Phaeanthus ophthalmicus [25]. Cùng năm 2011, Kazumasa Zaima và cộng sự đã báo cáo tác dụng giãn mạch rõ rệt của các bisbenzyl isoquinoline alkaloids, benzyl isoquinoline alkaloids, va_ isoquinoline alkaloids phân lập tir Phaeanthus crassipetalus [40]. Năm 2013, Hairin Taha và các công sự nghiên cứu tác dụng chống lại sự co that gây ra bởi NE của loai Phaeanthus crassipetalus.
Gần đây, năm 2017, Nguyen Xuan Nhiem và cộng sự đã công bồ tác dụng ức chế hoạt động của sản phẩm gây viêm oxit nirit (NO) của 3 hoạt chất mới phân lập gồm (7S,88,8#)-9.3⁄5'- tetramethoxylignan-4,4’,7-triol, 8a-hydroxyoplop-11(12)-enl4-one, và (1#25,45)-4- acetyl-2ŒE)- (cinnamoyloxy)] -I-methyleyclohexan-l-oltừ cây Phaeanthus vietnamensis Ban [33] 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Cây thuốc Thượng là một loài cây thuốc quý được sử dụng trong dân gian để giảm đau, tiêu viêm, kháng khuẩn, hạ đường huyết; đặc biệt chủ trị viêm loét dạ dày, nhiễm trùng đường muột. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học từ các chiết xuất các loài thuộc chỉ Phaean:hus còn rất hạn chế. Năm 1991, Nguyễn Thị Nghĩa và các công sự đã phân lập được tám alkaloid từ lá của loài Phaeanthus vieimamensis.
Năm 7 trong số này được xác định là isoquinolines N-methyl-6,7- dimethoxy isoquinolone, N- methylcorydaldine, phenanthrenes argentinine, atherospermine, seco-benzylisoquinoline petalinemethine. Hai bisbenzylisoquinoline méi đã được mô tả là (-)-7,7'-O,O'- dimethylgrisabine va (-)-7-O-methylgrisabine va 1 secobisbenzylisoquinolone mới là vietnamine [34]. Năm 2012, Võ Duy Lê Sơn Đại học Nông lâm thành phó Hồ Chí Minh đã nghiên cứu Định tính- định lượng - chiết tách và khảo sát hoạt chất kháng khuẩn của hop chat Alkaloid trong cay thuée Thugng (Phaeanthus vietnamensis Ban) [15] Năm 2014, Đào Hùng Cường và cộng sự đã nghiên cứu về thành phần hóa học từ cây thuốc Thượng (Phaeanthus vieinamensis Ban) [4]. Năm 2016, Nguyễn Trung Tường và cộng sự đã nghiên cứu về các hợp chất alkaloid phân lập từ lá cây thuốc Thượng (Phaeanthus vienamensis Ban).
Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu mang tính chất thăm dò, cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu về thành phần hoạt chất cũng như các hoạt tính sinh học chuyên sâu của loài cây thuốc đặc hữu Việt Nam Phaeanthus vietnamensis Ban. Cấu trúc của phối và cơ chế viêm đường hô hấp 1. Cấu trúc của phối Phổi là một cơ quan của hệ hô hấp, nằm bên trong lồng ngực có đặc tính đàn hồi, mềm và xốp, là cơ quan quan trọng trong cơ thể với chức năng chủ yếu là trao đổi không khí giữa môi trường và cơ thể con người. Khí quản Tiểu phế Màng ngăn.
Phé nang Hình 1. Cấu trúc phổi (638x479) Phỏi đưa oxy từ không khí lưu thông vào tĩnh mạch phổi, và đưa CO; từ động mạch phổi ra bên ngoài môi trường. Bên cạnh đó, phổi cũng giữ một số chức năng thứ yếu khác như: lọc độc tố trong máu, lọc một số các chất sinh hóa. Không những thế, phổi cũng là một khoang không gian để lưu trữ máu.
Phdi bao gồm hai buồng phổi nằm bên trong lồng ngực, được bảo vệ bởi các xương sườn xung quanh, bên dưới phôi gồm có cơ hoành ngăn giữa phôi và các cơ quan trong bụng như: gan, dạ dày, lá lách [16] Cấu tạo của phối Giữa 2 buồng của phôi là khí quản giữ chức năng là một ống dẫn khí chính. Cây khí quản lại được phân thành hai nhánh phế quản chính. Quả tim nằm giữa 2 bên phổi, hơi chếch về bên mạn phổi trái. Buồng phổi bên trái gồm có 2 thùy phổi, bên phổi phải thì có 3 thùy.
Mỗi buồng phổi lại có một phế quản chính, 2 tĩnh mạch và 1 động mạch chính. Những ống dẫn này lại được chia thành giống như các rễ cây chỉ chít ở giữa ngực đến các cực nhỏ phía ngoài cùng của 2 bên buồng phổi, kèm theo đó là các dây. thần kinh lớn, nhỏ và các mạch bạch huyết bao xung quanh [ 16] Bề mặt phế quản và phế nang được bao phủ bởi lớp nhung mao rất mịn và một lớp màng nhầy mỏng. Các chất nhây giữ bụi, hạt phấn và các chất ban.
chuyên động đây các bản lên, đưa vào thực quản nuốt xuống dạ dày theo nước miếng [I6]. Lớp tế bảo biểu mô phủ lên lòng phế nang, phế quản và tế bào nội mô phủ lên nền mạch có vai trò như một hàng rào ngăn nước và ngăn các phân tử protein đi vào mô kẽ. Mô kẽ là tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản. Trong mô kẽ có nhiều các tế bào miễn dịch, giúp tạo kháng thể, giúp cơ thê chống lại tác nhân gây bệnh [16].
Cơ chế viêm — dị ứng đường hô hấp MHC Alegen (as molecule T,Z cai Trúc ‘Abdullah A. Cơ chế viêm — dị ứng đường hô hấp Cơ chế viêm - dị ứng trong bệnh lý đường hô hấp được mô tả tóm tắt như sơ đồ hình 1. Theo đó, sau khi có tác nhân gây dị ứng xâm nhập vào trong đường hô hắp trên, phản ứng viêm ban đầu được kích hoạt bởi tế bào hình sao. Tế bào hình sao sẽ bắt kháng nguyên hình thành phức hợp APC.
Lúc này, APC sẽ dùng thụ thể của mình (phân tử MHC lớp II) đề trao đổi mảnh kháng nguyên bắt được với thụ thể (TCR) trên tế bào nguyên bản T helper 0 và qua đó kích hoạt Th0 biệt hóa thành các dòng tế bào khác nhau bao gồm Thi, Th2, Th17 và Treg (T regulation). Trong đó Th1 và Treg có chức năng kìm hãm Th2 và Th17 để ức chế việc sản xuất các cytokines viêm của chúng. Khi Th2 được kích hoạt chúng sẽ tiết ra các chất tiết nhu IL-4, IL-S, IL-9, IL-13. IL- 5 là cytokine chính để biệt hóa tế bào eosinophil, sản phẩm của tế bao eosinophil là tác nhân chính trong việc gây viêm phù nề và xơ hóa đường phế quản.
IL-4 và IL-13 gây kích hoạt tế bào B khiến giải phóng. các kháng thể trên bề mặt, kháng thể này đến gắn vào tế bào mass và kích hoạt chúng, tế bào mass đóng vai trò chủ chốt trong phản ứng dị ứng type I, các sản phẩm của tế bào mast (dưỡng bào) bị vỡ như histamine, prostaglandin,. gây ra các triệu chứng khó chịu trong bệnh lý như ngứa ngáy, hắt hơi, chảy mũi nước, và cũng ảnh hưởng đến cơ.