Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỐC TỊCH CỦA TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái niệm quốc tịch và nguyên tắc xác định quốc tịch của trẻ em theo pháp luật Việt Nam 1.1 Khái niệm về quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch của Việt Nam - Khái niệm về quốc tịch: Quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản. Trong các xã hội khác nhau, thời kỳ lịch sử khác nhau, công dân sẽ có địa vị pháp lý khác nhau. Địa vị pháp lý đó được củng cố và hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn phát triển của xã hội. Thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi.
Từ phương diện pháp lý hiện đại, quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, được xác lập giữa cá nhân với một quốc gia nhất định, có nội dung là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó và quốc gia mà họ là công dân [17, tr. Một trong những yếu tố quan trọng cấu thành quốc gia là dân cư sống trên lãnh thổ của quốc gia đó. Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ qua lại giữa nhà nước với dân cư của tổ chức nhà nước đó gọi là quốc tịch. Như vậy, quốc tịch là mối quan hệ pháp lý giữa một cá nhân với một chính quyền nhà nước nhất định, có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định, không bị giới hạn.
Từ điển quốc gia của nhiều nước cũng đã khẳng định:“Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó” (từ điển Oxford của Anh) [26]; “Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân. Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài. Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước” (từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ) [26]; “Quốc tịch là một đặc tính phát sinh từ 9 n sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó” (từ điển Luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ) [26]. Quốc tịch là căn cứ duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và thông thường, trẻ em từ khi sinh ra đều mang quốc tịch nhất định, xác định địa vị pháp lý và mối liên hệ với nhà nước đó, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân.
Về pháp lý, quốc tịch là một chế định bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ được thiết lập giữa Nhà nước và cá nhân; là tiền đề bắt buộc để một cá nhân có thể được hưởng các quyền và nghĩa vụ công dân đối với một nhà nước. Quốc tịch mang tính ổn định lâu dài, chỉ có thể thay đổi trong những trường hợp đặc biệt với những điều kiện hết sức khắt khe (xin nhập, xin thôi, xin trở lại quốc tịch, bị tước quốc tịch,. Quốc tịch có đặc thù là vừa mang tính quốc tế nhưng lại là đối tượng điều chỉnh của luật pháp quốc gia. Điều kiện tiên quyết, thiết yếu để tham gia đầy đủ vào các hoạt động của xã hội và để thụ hưởng đầy đủ các quyền của con người là phải có quốc tịch của một quốc gia.
- Quyền có quốc tịch và nguyên tắc một quốc tịch: Quyền có quốc tịch là quyền dân sự cơ bản, là cơ sở, nền tảng cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân, được pháp luật quốc tế và quốc gia thừa nhận. Xuất phát từ quan ngại trước các vấn đề về thực hiện nghĩa vụ dân sự, lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các quan hệ dân sự, hôn nhân, gia đình. liên quan đến người có hai hay nhiều quốc tịch mà các quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch cho công dân của mình. Hiện nay, có nhiều nước cho phép công dân mang hai hoặc nhiều quốc tịch, tuy nhiên, nguyên tắc một quốc tịch (bao gồm nguyên tắc một quốc tịch triệt để và nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo) vẫn là nguyên tắc phổ biến trên thế giới.
Theo thông tin mà UNHCR cung cấp cho Bộ Tư pháp, năm 2018, trên thế giới có 79 quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong hệ thống pháp luật của quốc gia mình (gồm 51 quốc gia theo nguyên tắc một quốc tịch triệt để và 28 quốc gia theo nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo – chấp nhận trường 10 n hợp công dân mang hai quốc tịch trong một số trường hợp ngoại lệ). Nguyên tắc một quốc tịch cũng đã được nghiên cứu và đưa vào các văn kiện pháp lý quốc tế nhằm hạn chế trường hợp có hai hay nhiều quốc tịch (như Công ước La Hay năm 1930, Công ước châu Âu năm 1997 về quốc tịch, Công ước năm 1963 về giảm thiểu tình trạng nhiều quốc tịch và nghĩa vụ quân sự trong trường hợp nhiều quốc tịch. - Nguyên tắc một quốc tịch của Việt Nam: Nguyên tắc một quốc tịch luôn được ghi nhận như nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật về quốc tịch của Việt Nam từ trước đến nay. Quốc hội Việt Nam đã ban hành 03 văn bản Luật quốc tịch Việt Nam vào các năm 1988, 1998, 2008 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2014).
Trong đó, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, 1998 quy định theo nguyên tắc một quốc tịch triệt để - “Nhà nước CHXHCN Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam” (Điều 3). Đến năm 2008, Nhà nước ta với xu hướng hội nhập, thực hiện chủ trương của Đảng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo Nghị quyết 36-NQ/TƯ ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (Đảng và Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước, giải quyết thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch), LQTVN vẫn được xây dựng theo nguyên tắc một quốc tịch nhưng đã mềm dẻo hơn. Cụ thể, Điều 4 LQTVN quy định “Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.2 Nguyên tắc xác định quốc tịch đối với trẻ em Quyền có quốc tịch của trẻ em luôn được các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đặc biệt quan tâm và đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo đảm quyền có quốc tịch của trẻ em như: bảo đảm không có trẻ em nào sinh ra bị 11 n rơi vào tình trạng không quốc tịch; xóa bỏ thực trạng phân biệt đối xử và từ chối thực hiện quyền có quốc tịch của trẻ em; đẩy mạnh công tác đăng ký khai sinh cho trẻ em nhằm ngăn ngừa tình trạng không quốc tịch của trẻ em; xây dựng pháp luật về quốc tịch không có sự phân biệt về giới, không phân biệt đối xử, bảo đảm quyền có quốc tịch của trẻ em; tích cực nghiên cứu, tham gia các công ước quốc tế về quyền trẻ em. Khoản 3 Điều 24 Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị quy định “mọi trẻ em đều có quyền có quốc tịch”; Điều 7 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “1.
Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc. Các quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch”. [29] Pháp luật mỗi nước có những nguyên tắc khác nhau để xác định quốc tịch đối với trẻ em. Một số nước thực hiện theo nguyên tắc quyền huyết thống, có nghĩa là căn cứ và huyết thống để xác định quốc tịch cho trẻ em, kể cả trẻ em sinh ra ở nước ngoài.
Nguyên tắc này cho phép xác định quốc tịch của trẻ em theo quốc tịch của người cha hoặc người mẹ, thậm chí có quốc gia còn cho phép xác định quốc tịch của trẻ em theo quốc tịch của ông/bà. Một số nước thực hiện theo nguyên tắc quyền nới sinh, có nghĩa là trẻ em sẽ mang quốc tịch của quốc gia nơi sinh ra, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha/mẹ. Như vậy, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của quốc gia áp dụng quyền nơi sinh sẽ mang quốc tịch của quốc gia đó. Bên cạnh đó, một số quốc gia còn thực hiện kết hợp nguyên tắc quyền huyết thống với nguyên tắc quyền nơi sinh để xác định quốc tịch cho trẻ em trong trường hợp trẻ có cha, mẹ mang hai quốc tịch khác nhau hoặc có cha, mẹ là người không quốc tịch.
Ví dụ, một số quốc gia quy định trẻ em sinh ra trên lãnh thổ quốc gia mà người cha hoặc người mẹ có quốc tịch thì trẻ em đó có 12 n quốc tịch của quốc gia nơi sinh ra. Những nguyên tắc này có thể thay đổi để phù hợp với mục tiêu, chính sách, yêu cầu quản lý dân cư, xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau. Việt Nam là quốc gia áp dụng nguyên tắc quyền huyết thống trong xác định quốc tịch. Do đó, LQTVN quy định rõ trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (Điều 15).
Tại Điều 16, 17 LQTVN quy định “1. Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con.