đặt vấn đề nghiên cứu về rủi ro trong lĩnh vực đầy biến động khó lường, như trong hoạt động tài chính – ngân hàng. b) Quản trị rủiro Đầu tiên, ta cần hiểu rằng, quản trị nếu xét ở khía cạnh ngôn từ bao gồm: quản và trị. Quản được hiểu là đưa đối tượng vào khuôn mẫu quy định sẵn, còn Trị là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định. Nếu đối tượng không thực hiện đúng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sức thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành nhằm đạt được mục tiêu.Do vậy, quản trị là quá trình hoạch định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch mà đối tượng quản lý cần đạt được trong một giai đoạn nhất định, tổ chức thực hiện các chiến lược, mục tiêu đó, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong tổ chức một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra.
Trong quá khứ, nói đến khái niệm QTRR phần lớn người ta nghĩ đến các hoạt động trong ngành bảo hiểm. Đây là các dịch vụ trọn gói, người mua bảo hiểm sẽ không phải chịu các rủi ro trong trường hợp nó xảy ra. Tuy nhiên, khái niệm QTRR ngày nay đã thay đổi rất nhiều. Với những yêu cầu của pháp luật, yêu cầu của người lao động, QTRR đã trở thành một yếu tố quản trị ngày càng quan trọng như quản trị tài chính hay quản trị các nguồn lực khác trong tổ chức.
Điển hình cho khái niệm QTRR phải kể đến trong nghiên cứu của Kloman, Haimes, theo đó, QTRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Như vậy, QTRRngày nay được hiểulà quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công. c)Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Theo phân loại của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel, rủi ro mà các định chế tài chính có thể gặp phải được chia thành 3 nhóm: (i) Rủi ro thị trường, như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, chứng khoán…; (ii) RRTD, như vỡ nợ, sự cố tín dụng…; (iii) rủi ro hoạt động, như: giao dịch thất bại, giao dịch bất hợp pháp…. Như vậy, RRTD là một trong 3 nhóm rủi ro chính của hoạt động kinh doanh của NHTM.
Theo đó, có thể hiểu đây là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Theo Ủy ban Basel, một cách đơn giản, RRTD được định nghĩa là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khoản đã thỏa thuận. Theo Thông tư 02/2014/TT-NHNN ngày 21/01/2014 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, RRTD trong hoạt động ngân hàng, hay còn gọi là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo đó, RRTD là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc khôngcó khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụngkhông chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động tín dụng khác của ngân hàng như: chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, mở L/C(Letter of Credit), cam kết thanh toán và các hình thức tài trợ thương mại khác. Nhìn chung, các tiếp cân kể trên và trong thực tế, đa số khái niệm về RRTD thường được tiếp cận theo một chiều tiêu cực, nghĩa là chỉ bao gồm tổn thất (loss) đối với người cho vay (ngân hàng),mà không bao gồm giá trị gia tăng (gain). Định nghĩa này có thể coi RRTD được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa thực tế cuộc sống của dân chúng. Rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ mà khách hàng nợ lại không thực hiện, không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Như đã phân tích ở trên, ngay này khía cạnh RRTD, cũng như quản trị nó được đặt ở phạm vi rộng, do đó QTRRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTMđược hiểu là toàn bộ quá trình nhận điện, đo lường, đánh giá, giám sát, kiểm soát và báo cáo RRTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi mức độ RRTD chấp nhận được (Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Mạnh Hùng, 2010). Bên cạnh đó, quá trình QTRRTD hiệu quả còn cho phép các NHTM tận dụng tốt hơn cơ hội kinh doanh, phân tích và dự báo được chính xác hơn hoạt động tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 của mình.
Nói cách khác, nghiên cứu về rủi ro nói chung, hay QTRRTD nói riêng cần tiếp cận ở hai khía cảnh, cả về tổn thất, lẫn giá trị gia tăng. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quảđể ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản trị khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. + Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản trị danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thểđi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từđặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Nội dung của QTRRTD LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, để giải bài toán về mỗi quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận, cần tiến hành quản lý RRTD một cách có hệ thống với nhiều công đoạn (Hình 1.1), bao gồm:(1) Nhận diệnRRTD; (2) Đo lường RRTD; (3) Xử lý giảm thiểu rủii ro tín dụng; (4) Giám sát và báo cáo rủi do tín dụng. Từ khái niệm trình bày trên cho thấy, QTRR bao gồm các nội dung:nhận diện; phân tích; đo lường rủi ro.1 Quy trình QLRR cơ bản Hình 1.
Mỗi quan hệ và trình t các (Nguồn: tổng hợp tác giả) bước trong quy trình QLRR * Nhận diện rủi ro (Nguồn: tổng hợp tác giả) Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của tổ chức. Hoạt động nhận diện rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các tổn thất. Nhận diện rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với tổ chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp. Theo Tiêu chuẩn ISO 3100 về Hệ thống quản lý rủi ro, các tổ chức nên nhận diện nguồn gốc rủi ro, phạm vi của sự tác động, sự kiện từ rủi ro đó nguyên nhân của chúng và các kết quả có thể xảy đến.
Mục đích của việc này là để tạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ra loạt danh sách các rủi ro dựa trên những sự kiện mà có thể làm cho việc thực hiện các mục tiêu bị ngăn cản, suy thoái, hay bị trì trệ. Nhận diện rủi ro một cách toàn diện là hết sức quan trọng bởi vì không nhận diện được lúc này thì sẽ không có cơ sở để phân tích phía sau. Nhận diện rủi ro nên bao gồm tất cả những rủi ro có hay không có nguồn gốc từ việc điều hành của tổ chức đó, thậm chí các rủi ro có nguồn gốc hay nguyên nhân có thể không có luận chứng. Nhận diện rủi ro cũng như dự báo điều gì có thể xảy ra, điều đó là cần thiết cho việc cân nhắc những nguyên nhân khả dĩ và những kịch bản có thể xảy đến.
Tất cả những nguyên nhân và kết quả quan trọng này nên được cân nhắc.Cho dù ngân hàng đã cấp tín dụng đúng đắn đến chừng nào, khách hàng có thiện chí trả nợ đến đâu, thì điều đó không có nghĩa là RRTDsẽ không phát sinh.