chương 1, chương 2, mục tiêu định hướng, các yếu tố tác động và phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Công ty, từ đó xây dựng chính sách marketing đối với thị trường nội địa tại Công ty cô phần Giày Bình Định. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quá trình thực hiện việc nghiên đề tài, tác giả đã tham khảo một số tài liệu về cơ sở lý luận về chính sách marketing của doanh nghiệp, đồng thời tham khảo một số luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh có liên quan đến việc xây dựng chính sách marketing của doanh nghiệp đã được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng. Trong một số luận văn về để tài xây dựng chính sách Marketing, luận văn đánh giá được thực trạng hoạt động marketing của doanh nghiệp với những ưu điểm mang lại, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing. Bên cạnh cơ sở lý luận chung, mỗi đề tài có những điểm riêng khác biệt tùy vào bối cảnh, đặc thù sản phẩm, dịch vụ và mô hình hoạt đông mà các tác giả đã đưa vào cơ sở lý luận nhằm tìm ra giải pháp phù hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
-Đề hính sách marketing của Vietnam Airlines trong vận tải hàng không quốc tế" của học viên Nguyễn Đức Bảy thuộc Đại học Đà Nẵng, tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích, thống kê so sánh và tổng hợp. Đề tài đi sâu phân tích được. thực trạng hoạt động kinh doanh của Vietnam Airlines, từ các căn cứ đề như dự báo môi trường marketing, đối thủ cạnh tranh, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vận tải hàng không để xác định thị trường mục tiêu, định hướng chiến lược kinh doanh và mục tiêu phát triển sản phẩm - dịch vụ. Dựa trên lý thuyết cơ bản về marketing dịch vụ, chính sách marketing dịch vụ, trên cơ sở vận dụng các giải pháp marketing xây dựng được từ quá trình nghiên cứu, từ đó áp dụng vào thực tiễn ngành vận tải hàng không nhằm mục đích giải quyết những khó khăn còn tôn tai va phat triển hơn nữa về sản phẩm - dịch vụ của Vietnam Airlines.
~ Đề tài: “Xây dựng chính sách Marketing dịch vụ điện thoại di động tại Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực 3 - Khu vực Miễn Trung” của học viên Nguyễn Ngọc Thái Bình thuộc Đại học Đà Nẵng đã dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh và dựa trên lý thuyết marketing trong. lĩnh vực dịch vụ, kết hợp phân tích và tổng hợp các nghiên cứu thực tế, để làm cơ sở cho các đánh giá và đề xuất giải pháp. Qua đó xây dựng chính sách marketing định hướng vào khách hàng, hỗ trợ cho công tác kinh doanh dịch vu va nâng cao vị thể cạnh tranh trên thị trường. Trong nên kinh tế thị trường đầy sôi động với tình hình cạnh tranh ngày cảng.
khốc liệt nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, để đảm bảo lợi thé trong cạnh tranh các doanh nghiệp phải ngày càng hoàn thiện sản phẩm cả về chất lượng và mẫu mã, cung cắp cho khách hàng một cách tốt nhất, hoàn hảo. nhất, nhanh nhất, đó là một công việc khó khăn. Muốn làm được điều này các doanh nghiệp phải thực hiện sản xuất kinh doanh hướng theo thị trường, theo khách hàng và phải áp dụng các hoạt động marketing vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Chìa khóa để tạo nên sự chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp là chính sách marketing, nó sẽ là công cụ giúp doanh nghiệp đi đến thành công.
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, tác giả đã đi sâu phân tích các số liệu, nghiên cứu và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như các họat động marketing của Công ty cổ phần Giày Bình Định trong thời gian qua. Qua đó, phần nào có thể thấy được tầm quan trong của việc vận dụng marketing trong sản xuất - kinh doanh. Dựa trên những cơ. sở lý luận về chính sách marketing, tác giả sử dụng phương pháp tông hợp, phân tích và so sánh số liệu thực tế tại Công ty, thảm khảo ý kiến của các chuyên gia, nghiên cứu các tài liệu có sẵn ở Công ty cũng như các tài liệu nghiên cứu của các tổ chức trong và ngoài nước, dé từ đó đưa ra những chính sách marketing phù hợp và thiết thực nhất nhằm nâng cao hiệu quả họat động.
sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời củng cố vị thế của Công ty trên thị trường nội địa. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHINH SACH MARKETING CUA DOANH NGHIEP 1. TONG QUAN VE MARKETING. Sự phát triển của lý thuyết và thực tiễn marketing.
Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây, marketing phát triển mạnh mẽ cả về lý thuyết cũng như thực tiễn để trở thành một môn khoa học phd biến như ngày nay. Khi mới ra đời, marketing có ý nghĩa là “nghiên cứu thị trường”, nó chỉ giới hạn ở lĩnh vực thương mại với nhiệm vụ chủ yếu là tiêu thụ những hàng hóa và dịch vụ sẵn có nhằm thu được lợi nhuận. Người ta gọi marketing trong giai đoạn này là marketing truyền thống hay marketing cổ điển. Sau chiến tranh thể giới thứ 2, kinh tế thế giới chuyển sang thời kỳ phục hưng và phát triển.
Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật làm cho nhu cầu xã hội nhanh chóng được thỏa mãn. Xu hướng quốc tế hóa đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi về cơ bản hành vi kinh doanh của mình. Họ đã nhận thức được rằng, nếu chỉ làm ra một sản phẩm tốt vẫn chưa chắc chắn tiêu thụ được, điều quan trọng là sản phẩm có tiêu thụ được hay không. Trong bối cảnh đó, những hoạt động và quan niệm của marketing truyền thống đã trở nên lỗi thời không còn phù hợp.
Marketing hiện đại ra đời đã thay thế marketing truyền thống. Mặc dù marketing xuất hiện trong lĩnh vực kinh doanh và được áp dụng trước hết vào bán hàng nhưng ngày nay hiểu biết về marketing và thực tế về marketing đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Từ chỗ coi marketing là công cụ để bán hàng, đến việc hình thành triết lý marketing cho rằng mục đích của marketing là làm cho việc bán hàng trở nên không cần thiết, coi marketing là một phương tiện để hiểu con người và thỏa mãn nhu cầu của con người. Khái niệm marketing.
Có nhiều khái niệm về marketing. Marketing là quá trình tô chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do Công ty sản xuất ra Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó.
Chúng ta cũng có thể hiểu rằng marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường. Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá tri với những người khác [ 7, tr.12 ] Khái niệm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chỉ phí và sự hài lòng, trao đôi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái niệm này được minh hoạ trong hình sau [7, tr.13]: bàn Gia tri, | | Teo 7 Marketing mong muốn ||P|| phẩm Sa |*| chỉvàsyphí | |>|| đội, giao |>| trường dịchvà đi |x| và làm người và yêu hài các mỗi marketing cau long quan hé Hình 1.1: Những khái niệm cốt lõi của marketing Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về marketing, nhưng nhìn chung chúng có một đặc trưng cơ bản là: chỉ bán những cái mà thị trường cần chứ không phải là những cái mà mình có, muốn biết thị trường người tiêu dùng cần gì phải nghiên cứu thị trường một cách cụ thể và có những chính sách linh hoạt, marketing phải gắn liền với tổ chức và quản lý, phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Công ty và lợi ích của khách hàng. Vai trò của marketing Marketing có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhờ marketing mà nhà sản xuất hiểu được người tiêu dùng, tìm cách thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng của họ. Khi đó, việc kinh doanh mới có hiệu quả và đạt được lợi nhuận cao. Marketing luôn đảm bảo một cách trọn vẹn chiến lược kinh doanh từ việc hình thành ý tưởng, gợi mở nhu cầu tổ chức sản xuất, cung ứng các loại sản phẩm dịch vụ một cách tốt nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Marketing là chiếc cầu nối giữa khách hàng và Công ty mang tính hiệu quả và khả thi cao nhất, giúp Công ty nâng cao uy tín trên thị trường cũng như đưa ra các đối sách linh hoạt và hiệu quả trong cạnh tranh.
Chức năng của marketing Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, marketing có những chức năng quan trọng sau: Phân tích thị trường, phân tích tiềm năng nhu câu tiêu dùng, dich vu và dự đoán triển vọng thị trường. Tăng cường khả năng thích ứng của Công ty với sự biến động thường xuyên của thị trường, đảm bảo mối quan hệ của Công ty với các cơ quan chức năng tại địa phương. Thỏa mãn nhu cầu tốt hơn của khách hàng, tổ chức và hoàn thiện hệ thống tiêu thụ sản phẩm, phối hợp lập kế hoạch, tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty. Mục tiêu của marketing Mục tiêu marketing của doanh nghiệp được xác định nhằm thực hiện chức năng, mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.
Những mục tiêu marketing cơ bản là: Tăng lợi nhuận bằng cách gia tăng doanh số hoặc giảm chỉ phí hoạt động hoặc cả hai. Doanh số lại có thể tăng bằng nhiều biện pháp như tăng giá bán hoặc tăng sản lượng. Để tăng sản lượng có thể tăng bằng cách tăng thị phần trong nước hoặc nước ngoài. Gianh vị thế cạnh tranh bằng cách đạt mức.
tăng trưởng cao về doanh thu, lợi nhuận, tăng tỷ lệ thị trường nắm giữ, tăng cường tích tụ và tập trung hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, giữ vai trò chỉ phối trong các hoạt động liên doanh.