Chương 1 — Một số vẫn đề lý luận cơ bản về tạo động lực thúc đây người lao động bằng công cụ phi tài chính. Chương 2- Tình hình thực hiện công tác tạo động lực thúc đây người lao động bằng công cụ phi tài chính tại Tổng công ty điện lực miền Trung Chương 3 - Kết luận và kiến nghị 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quan điểm nhu cầu thỏa mãn: Nhóm nền tảng lý thuyết của Maslow (1943)l8Ï, Adam (1963)15Ì, và McClelland (1988)Ì2Ì: Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về học thuyết của mình, đều cho rằng sự thỏa mãn nói chung là giá trị nhận được phải lớn hơn hoặc bằng giá trị kỳ vọng. Trên nền tảng lý thuyết đó, một số nhà nghiên cứu sau này kế thừa và phát triển về nhu cầu thỏa mãn, họ định nghĩa chung sự thỏa mãn được xem là giá trị thực tế (trạng thái hài lòng thực tế) mà người lao động nhận được so với giá trị kỳ vọng (trạng thái hài lòng mong đợi) về những khía cạnh công việc như tiền lương phúc lợi, tính chất công việc, quan hệ công việc, điều kiện làm việc, v.
Quan điểm kết hợp: - Vroom (1964)L10]; sự thỏa mãn của người lao động là trạng thái mà người lao động được động viên từ ba nhân tố kết hợp giá trị kỳ vọng từ công việc, phương tiện làm việc, hấp lực từ thành quả lao động. - Hackman và Oldham (1975)16]: sự thỏa mãn của người lao động là chuỗi giá trị trải nghiệm và nhận thức từ sự kết hợp 5 đặc điểm công việc cốt lõi như đa dạng kỹ năng, xác định tính chất công việc, tầm quan trọng công việc, quyền quyết định và phản hồi tạo động lực làm việc, hiệu suất công việc cao. Định nghĩa theo khía cạnh độc lập - Herzberg (1959)L”Ì: sự thỏa mãn của người lao động đều có định nghĩa chung là mức độ yêu thích công việc hay cố gắng duy trì làm việc của người lao động thê hiện qua sự nhận thức (tích cực hoặc tiêu cực hoặc kết hợp tích cực và tiêu cực) về các khía cạnh khác nhau trong công việc ảnh hưởng đến bản thân họ. Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn của người lao động, nói một cách tông thê cho biết “trạng thái hài lòng hay bắt mãn của người lao động vẻ công việc thông qua tiêu chí đánh giá khác nhau”.
Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE TAO DONG LUC THUC DAY NGUOI LAO DONG BANG CONG CU PHI TÀI CHÍNH 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN LIÊN QUAN DEN TAO DONG LUC THUC DAY VA TAO DONG LUC THUC DAY BANG CÔNG CỤ PHI TÀI CHÍNH. Nhu cầu của người lao động Con người tham gia lao động là muốn được thỏa mãn những đòi hỏi, những ước vọng mà mình chưa có hoặc có nhưng chưa đây đủ.
Theo Mác, mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là nhằm thỏa mãn ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu vật chất và tỉnh thần ngày càng tăng của bản thân người lao động.Lenin: Đảm bảo đời sống đây đủ và sự phát triển tự do và toàn diện cho các thành viên trong xã hội nhất là người lao động thì không chỉ là thỏa mãn nhu cầu mà nó còn đảm bảo hạnh phúc, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện, đảm bảo bình đăng xã hội gắn liền hạnh phúc và tự do của họ [2] Nhu cầu là tất cả những đòi hỏi, những mong ước xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau (như mặt xã hội, mặt tâm sinh lý.) nhằm đạt được mục đích. Nhu cầu là trạng thái tâm sinh lý của con người nhằm đạt được cái gì đó. Nhu cầu là sự cảm nhận trong nội tâm con người về cái cần thiết cho mình đê sống và phát triển. Nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên két chang chit, có khả năng phát triển và đa dạng hóa.
Hệ thống nhu cầu của con người phong phú và đa dạng, thường xuyên tăng lên về chất lượng và số lượng. Khi một nhu cầu được thỏa mãn lập tức xuất hiện nhu cầu khác cao hơn. Mỗi hoạt động con người đều hướng vào đích nhất định. Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn được thỏa mãn những yêu cầu, những đòi hỏi, mong muốn mà họ đã có hoặc có nhưng chưa đủ.
Sự thỏa mãn đó có thể là vật chat va tinh than. Việc thường xuyên áp dụng các biện pháp khuyến khích về vật chất và về tỉnh thần đối với người lao động. hiéu được nhu cầu của người lao động và không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của người lao động là một trong những nhân tố quan trong dé làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phầm, nâng cao nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với doanh nghiệp. Ngày nay các doanh nghiệp thành công rất chú ý đến những yếu tố này và coi đây là một chiến lược quan trọng đề giữ chân người lao động.
Phân loại nhu cầu Thực tế cho thấy nhu cầu của con người rất phức tạp, do vậy khi các doanh nghiệp áp đặt ý chí chủ quan của mình trong việc đưa ra các chính sách thỏa mãn các nhu cầu nhân viên thì các chính sách ấy sẽ không mang lại hiệu quả mà có khi phản tác dụng. Có nhiều cách phân loại nhu cầu: - Nếu căn cứ vào tính chất, ta có: Nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội. - Nếu căn cứ theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu, ta có: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần. - Nếu căn cứ vào mức độ, khả năng thỏa mãn nhu cầu thì bao gồm: Nhu cầu bậc thấp nhất (gọi là nhu cầu sinh lý cơ thể); Nhu cầu thứ hai là nhu cầu vận động: Nhu cầu bậc cao nhất (gọi là nhu cầu sáng tạo).
Ta thấy, nhu cầu vận động và nhu cầu sáng tạo là hai hệ thống nhu cầu khó thỏa mãn hơn, song nếu biết định hướng thì có thể tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đây họ tham gia lao động. Nhìn chung, trong ba cách phân loại trên thì mỗi cách có ưu điểm riêng để làm rõ thêm hệ thống nhu cầu. Tuy nhiên sự phân chia thành ba cách cũng chỉ là tương đối, trong thực tế chúng hòa quyện lẫn vào nhau, khó phân tích rõ ràng. Động cơ Động cơ là mục đích chủ quan trong hoạt động của con người (cộng đông, tập thể, xã hội ) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cau đặt ra.
Khi nói rằng các nhà quản lý muốn thúc đây nhân viên của họ, có nghĩa là ta nói rằng họ làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào mong muốn và nguyện vọng của người lao động và thúc đây người lao động hành động theo một cách thức mong muốn. Thực tế thì động cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi vì: Thứ nhất : Nó thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người. Thứ hai: Động cơ luôn luôn biến đôi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. Trừ những nhu cầu về sinh lý, thì nói chung nhu cầu phụ thuộc phần lớn vào môi trường hoạt động của con người.
Chúng ta cũng có thể nhận thấy một cách rõ ràng rằng nhiều nhu cầu sinh lý bị kích thích bởi các yếu tổ môi trường như: Khi chúng ta còn nghèo đói thì động cơ sẽ thúc đây họ làm việc để có cơm ăn, áo mặc, khi đã có đủ cơm ăn áo mặc rồi thì nhu cầu khác lại nảy sinh, họ lại mong muốn được ăn ngon, mặc đẹp, muốn được thẻ hiện và do vậy động cơ của con người lúc này lại có sự thay đôi. Môi trường có ảnh hưởng lớn tới sự nhận thức của chúng ta về những 10 nhu cầu thứ cấp. Ví dụ, trong cùng một phòng ban sự thăng chức của một đồng nghiệp có thể khơi dậy ham muốn cuả những đồng nghiệp khác về một chức vụ cao hơn. Một sự thách thức có thể kích thích sự ham muốn của con người làm bằng được một việc nào đó.
Vì vậy, để có thể xác định chính xác động cơ thúc đây người lao động làm việc phải xác định rõ không gian và thời gian, và đối với từng người lao động cụ thê. Thứ 3: Động cơ rất phong phú, đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau. Một người có thê bị thúc đây trong cùng một thời gian với những mong muốn khác nhau (mua sắm vật dụng gia đình, tiết kiệm tiền cho những lúc cần thiết,. Song những mong muốn này lại phức tạp và mâu thuẫn với nhau (nếu như mua sắm thì sẽ không thể tiết kiệm được tiền cho những lúc cần thiết).
Ba đặc tính trên làm cho việc nắm bắt, xác định động cơ rất khó khăn. Động cơ của người lao động hết sức phong phú và đa dạng, là một nhà quản lý chúng ta cần phân tích và xác định chính xác động cơ số một và biết cải biến những động cơ đó đối với từng người lao động cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của tô chức. Phân loại động cơ Tùy thuộc vào việc xác định mục đích hành động, động cơ lao động có thê có hai dạng: động cơ cảm tính và động cơ lý tính. - Động cơ cảm tính gắn liền với trạng thái hứng thú lao động.
- Động cơ lý tính là biêu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu cụ thê. Trong thực tế, hai dạng động cơ này gắn liền với nhau và phản ánh qua thái độ của con người đối với hoạt động của mình. Động lực lao động * Đông lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động dé tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tô chức”. 11 * Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tô chức cũng như của bản thân người lao động.