đặt vấn đề nhu cầu vật chất của người lao động trong trạng thái động, tức là luôn có sự thay đổi theo thời gian và thay đổi ngay trong chính bản thân mỗi người lao động vì nhu cầu về vật chất đối với con người không bao giờ là đủ. Nhu cầu xã hội: đã là con người thì đều muốn có tác động quan hệ qua lại và chung sống với những người khác trong những hoàn cảnh, mà ở đó họ cảm thấy hoàn cảnh thuộc về mình và họ được chấp nhận. Đó là những nhu cầu có mối quan hệ tốt với những người xung quanh, được là thành viên đầy đủ trong một nhóm, được tin yêu.Trong tổ chức, những nhu cầu này được thể hiện qua mong đợi có mối quan hệ tốt đối với đồng nghiệp, được tham gia công việc trong nhóm, có mối quan hệ tích cực với cấp trên. Không phải lúc nào cũng chỉ là quan hệ tốt đẹp đã thúc đẩy sự hội nhập.
Trong nhiều trường hợp, con người tìm kiếm sự hội nhập vì họ muốn người khác khẳng định niềm tin của họ. Những người có niềm tin giống nhau, có xu hướng kết bạn với nhau. Nhu cầu cá nhân: luôn muốn được chứng tỏ năng lực của mình trước người khác và được ghi nhận là những mong muốn luôn tồn tại trong mỗi con người. Những người có năng lực cá nhân tốt thường không muốn chờ đợi một cách thụ động trước mọi việc xảy ra.
Họ muốn vận dụng môi trường và tác động đến các sự việc xảy ra. Những người có động cơ về năng lực sẽ mong muốn phát triển các ưu thế về chuyên môn nghệ nghiệp. Có thể xem công việc như một nơi thi đấu, ở đó người lao động có thể thể hiện tài năng và kỹ năng của mình, động cơ năng lực trong mỗi cá nhân được thể hiện tự do và người ta có thể nhận những giải thưởng cá nhân quan trọng. Nhưng đối với 20 các công việc đơn điệu, các công việc được giám sát chặt chẽ, người lao động phải phụ thuộc vào hệ thống và do đó làm cho người có nhu cầu năng lực không thể thẻ hiện được nguyện vọng của mình.
Để tạo động lực một cách hiệu quả thì cần phải xác định xem trong số các nhu cầu của người lao động thì nhu cầu nào là nhu cầu cấp thiết nhất của đại bộ phận người lao động trong công ty và sau đó phải phân loại nhu cầu theo nhóm đối tượng như nhu cầu của lao động quản lý, nhu cầu của công nhân trực tiếp, nhu cầu của lao động nam, lao động nữ.từ đó xây dựng kế hoạch công tác tạo động lực một cách hợp lý, thỏa mãn những nhu cầu cấp bách trước, có sự ưu tiên để thỏa mãn nhu cầu nào trước nhu cầu nào sau. Nhu cau của người lao động có thể xác định thông qua phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi với hệ thống các câu hỏi được thiết kế sẵn hoặc thông qua phương pháp phỏng vấn, trao đôi trực tiếp với người lao động. Trên cơ sở kết quả thu thập được cần tiến hành phân loại nhu cầu của người lao động theo các nhóm đối tượng từ đó thiết kế các biện pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Thiết kế các công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động a.
Tạo động lực làm việc bằng yếu tố vật chất “> Chính sách tiền lương. Tiền lương chính là sự bù đắp những hao phí lao động mà người lao. động đã bỏ ra, đó là nguồn thu nhập của họ, ở khía cạnh này họ mong muốn được trả lương cao. Tiền lương thỏa đáng sẽ kích thích nhiệt tình lao động của nhân viên nhờ đó mà tạo điều kiện tăng năng suat, chất lượng dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và qua đó gián tiếp làm tăng phúc lợi cho người lao động.
Tiền lương thấp sẽ làm kiệt quệ sức lao động của nhân viên, làm hạn 21 chế nhiệt tình lao động của họ, điều này dẫn đến tình trạng công nhân bỏ việc làm, đình công hoặc làm việc uễ oải năng suất thấp kết quả là lợi nhuận doanh nghiệp giảm, thua lỗ. Người lao động cũng không thể đòi hỏi tăng lương quá cao vì điều đó sẽ làm cho doanh nghiệp phải xem xét lại kế hoạch sử dụng lao động khi chỉ phí sử dụng lao động cao lên như cắt giảm quy mô sản xuất hoặc ngưng sản xuất, đầu tư chiều sâu để tăng năng suất lao động.tất cả điều này đều dẫn đến kết quả là giảm quy mô sử dụng lao động cũng có nghĩa là làm cho cơ hội có việc làm ổn định của người lao động bị mắt đi. Xét ở khía cạnh khác, tiền lương còn được xem là sự tôn trọng và thừa nhận, giá trị của lao động được đo lường thông qua tiền lương, đồng thời nó cũng thể hiện sự công bằng thông qua mối quan hệ tiền lương giữa các cá nhân. Chính sách tiền lương thỏa đáng cần phải kết hợp chặt chẽ với sự công bằng cho tất cả những cá nhân tham gia trong mối quan hệ với công việc Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách thiết lập một chính sách tiền lương bao gồm sự so sánh cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
Các tiêu chí trong chính sách tiền lương mang tính hiệu quả bao gồm: - Thỏa đáng:Các cấp độ tối thiểu từ phía chính phủ, công đoàn và quản lý phải được đáp ứng. - Hợp |ý:Mỗi nhân viên phải được trả công bằng, tương xứng với nỗ lực, khả năng của nhân viên - Cân đối:Lương, phúc lợi và những khoản thưởng khác phải hợp lý. ~ Chỉ phí — hiệu quả:Lương không nên cao quá, phải cân nhắc đến khả năng chỉ trả của tô chức. - An toàn:Lương phải đủ và hợp lý dé đảm bảo công bằng cho công, nhân cảm thấy an toàn, đáp ứng được những nhu cầu cơ bản.
2 ~ Khuyến khích:Lương phải khuyến khích, tạo ra tính hiệu quả và năng, suất làm việc. - Được nhân viên chấp nhận:Người lao động hiểu được hệ thống trả lương và cảm thấy nó hợp lý cho cả công ty và bản thân người lao động. $* Chính sách khen thưởng và phúc lợi Chính sách khen thưởng và các khoản phúc lợi cần phải đảm bảo tính công bằng cho tắt cả các cá nhân tham gia trong mối quan hệ với công việc. Điều này chỉ có thể đạt được bằng việc thiết lập một hệ thống khen thưởng, phúc lợi có sự so sánh cả bên trong lẫn bên ngoài tô chức.
Tiền thưởng là một trong những biện pháp khuyến khích tỉnh thần làm. việc đối với người lao động nhằm thu hút sự quan tâm của họ đến hiệu quả công việc và kết quả sản xuất. Có nhiều loại khen thưởng trong doanh nghiệp như sau: ~ Thưởng do tăng năng suất lao động, do đạt kế hoạch sản xuất - Thưởng do có nhiều sáng kiến về kỹ thuật, do tiết kiệm chỉ phí - Thưởng do khai thác khách hàng mới, do tìm được thị trường ~ Thưởng do đảm bảo ngày công, chuyên cần trong sản xuất ~ Thưởng do đạt mức thâm niên công tác trong tổ chức ~ Và các loại khác. Tùy điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà áp dụng các hình thức và thể loại khen thưởng khác nhau.
Tuy nhiên dù là loại tiền thưởng nào và hình thức gì thì tiền thưởng cũng phải thða mãn các yêu cầu sau: - Tiền thưởng phải gắn trực tiếp với những thành tích của người lao động. Chỉ những cá nhân đạt được tiêu chí của tiền thưởng thì mới được thưởng, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan gây ra sự không công bằng trong tổ chức. 23 - Tiền thưởng phải gắn với tiêu chí yêu cầu rõ ràng và chỉ tiêu cụ thể, phải phân loại và phân hạng mức rõ ràng, có các mức chênh lệch khác nhau phù hợp với sự đóng góp của từng cá nhân, có như vậy mới tạo được động lực cho người lao động thi đua kim vi ~ Tiền thưởng phải có giá trị và ý nghĩa tiêu dùng nhất định mới kích thích người lao động. Giá trị của tiền thưởng phải đủ để nuôi dưỡng sự kỳ vọng của người lao động vào nó.
Nếu tiền thưởng không đạt được giá trị đó sẽ không có ý nghĩa và kích thích người lao động. Phúc lợi là khoản đãi ngộ gián tiếp về mặt tài chính, là khoản chỉ trả cho người lao động ngoài tiền lương và tiền thưởng nhằm hỗ trợ cuộc sống và đông viên tỉnh thần làm việc cho người lao động. Phúc lợi thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống của người lao động, có tác dụng kích thích người lao động làm việc và lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp Có hai loại phúc lợi cho người lao động đó là: - Phúc lợi bắt buộc: Là các khoản phúc lợi tối thiểu mà các tổ chức. phải đưa ra theo yêu cầu của pháp luật.
Nó có thể là các loại bảo đảm, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế. - Phúc lợi tự nguyện: Là các phúc lợi mà tô chức đưa ra tùy thuộc vào khả năng kinh tế của họ và sự quan tâm của người lãnh đạo ở đó. Nó bao gồm các loại sau: + Các phúc lợi bảo hiểm: bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ, bảo. hiểm mắt khả năng lao động.
+ Các phúc lợi bảo đảm: Bảo đảm thu nhập, bảo đảm hưu trí. +_ Tiền trả cho những thời gian không làm việc: Do thỏa thuận ngoài mức quy định của pháp luật như nghỉ phép, nghỉ giữa ca, tiềm đi du lịch. + Phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt 24 'Việc cung cấp các loại phúc lợi có những ý nghĩa sau: ~ Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống cho. người lao động như hỗ trợ tiền mua nhà, mua xe, tiền khám chữa bệnh.
~ Phúc lợi làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, làm người lao động thấy phấn chắn từ đó giúp tuyển mộ tuyển chọn và giữ gìn một lực lượng lao động có trình độ cao. ~ Góp phần nâng cao đời sống vật chát, tinh thần của người lao động sẽ thúc đây và nâng cao năng suất lao động. ~ Đặc biệt còn giúp giảm bớt gánh nặng của xã hội trong việc chăm lo. cho người lao động như BHXH, BHYT, Đổ tạo ra một chính sách phúc lợi có hiệu quả và tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc, chính sách đó phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Chính sách phúc lợi phải có lợi ích cho người lao động và mang lại hiệu quả quản lý của doanh nghiệp.