chương I và 2 của cuốn sách này tập trung tông hợp lý thuyết và thực tiễn Marketing thành các nguyên lý nền tảng tư duy Marketing hiện đại - “Mọi khái niệm về quản trị Marketing trở nên vô nghĩa khi nó không đặt khách hàng làm trung tâm ”; đồng thời phân tích rõ nét hơn về khái niệm giá trị trong Marketing và các phương thức tạo ra giá trị cho khách hàng cũng. như cho doanh nghiệp. ~ Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tám (2008), với đề tài Luận văn thạc sĩ “Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng”. Tác giả đã khái quát cơ sở lý luận về khách hàng và quản trị quan hệ khách hàng (CRM), phân tích giá trị của khách hàng, các tiêu thức đánh giá chính sách CRM, ba cấp độ chiến lược Marketing nhằm duy trì mối quan hệ với khách hàng.
Trên cơ sở lý luận, tác giả đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng của hoạt động CRM thông qua các mục tiêu, chính sách quản trị quan hệ khách hàng của ngân hàng và đối thủ cạnh tranh. Kết quả của luận văn này là tác giả đã dựa trên tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng, năng. lực quản trị và mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng để xây dựng mô hình chiến lược quản trị quan hệ khách hàng cho ngân hàng; đề ra các nhóm giải pháp xây dựng những chương trình ưu tiên cho khách hàng mục tiêu, chương trình marketing Mix, chính sách sửa sai, bồi hoàn và chính sách coi trọng khách hàng đề hoàn thiện CRM tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng. - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh của tác giả Lê Thị Thu An (2012), với dé tài “Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chỉ nhánh Ngũ Hành Sơn”: Với luận văn này, tác giả đã nghiên cứu mới mẻ hơn bằng việc đề cập một cách khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và quan hệ khách hàng.
Bên cạnh đó, tác giả đã cung cấp các nội dung cơ bản về quản trị quan hệ khách hàng (CRM), trong đó, đề cập một số yêu cầu của hệ thống CRM, ba trụ cột của CRM, mối quan hệ giữa Marketing quan hệ và CRM để đi đến xây dựng hệ thống CRM với mô hình lộ trình thực hiện và tiến trình thực hiện CRM hoàn chỉnh hơn. Để cụ thể hóa những nội dung trên, tác giả tập trung phân tích những điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động CRM thông qua đặc điểm từng loại khách hàng, ứng dụng công nghệ thông tin, văn hóa triết lý mà Ngân hàng hướng vào và hệ thông quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 tại Ngan hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chỉ nhánh Ngũ Hành Sơn. Khi phân tích thực trạng CRM tại Ngân hàng, tác giả đã phân tích hệ thống thông tin khách hàng, các Module ứng dụng chương trình CRM, việc xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng và công tác phân nhóm khách hàng, chăm sóc khách hàng để có thể nắm được thông tin về lòng trung thành của khách hàng đối với Ngân hàng; từ đó rút ra những tồn tại và nguyên nhân tồn tại của vấn đề một cách chính xác. Những phân tích trên đã định hướng cho tác giả xây dựng chương trình CRM, xây dựng hệ thống CRM với các hoạt động CRM hướng đến khách hàng, tương tác khách hàng, tạo giá trị khách hàng, với quy trình thực hiện gồm 5 bước trong tiến trình thực hiện CRM tại Ngân hàng TMCP Công thương Vĩ Nam — Chỉ nhánh Ngũ Hành Sơn.
Cuối cùng, tác giả đã đưa ra mí số kiến nghị, đề xuất cho lãnh đạo, Ban Giám đốc Ngân hàng trong việc phối hợp thực hiện CRM thành công trong thời gian đến. ~ Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Văn Định (2012) về “Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chỉ nhánh Quy Nhơn”: Tác giả đã khái quát hóa hệ thống hóa những vấn đề căn bản về lý luận và thực tiễn khách quan, khoa học về vấn đề quản trị quan hệ khách hàng. để từ đó khăng định sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống quản trị quan hệ khách hàng tối ưu. Dựa trên những cơ sở đó, luận văn đã bám sát phân tích thực trạng CRM tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chỉ nhánh Quy Nhơn.
Kết quả của việc nghiên cứu thực trạng CRM tại Ngân hàng đã giúp tác giả hướng đến việc hoàn thiện hệ thống CRM và căn cứ một cách khoa học, thực tiễn để xây dựng các chính sách cho nhóm khách hàng mục tiêu phục vụ cho chương trình CRM tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quy Nhơn 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. Khái niệm về khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp. có nhu cầu cần sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Phân loại khách hàng Dựa vào hành vi mua của khách hàng, khách hàng được phân thành hai loại là khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân.
~ Khách hàng tổ chức: Là người thường có những quyết định mua mang tính chất phức tạp hơn. Những vụ mua sắm thường liên quan đến lượng tiền khá lớn, các cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và các ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tổ chức. Việc mua của khách hàng tô chức mang tính chất phức tạp, có thể mắt nhiều thời gian hơn khi đưa ra quyết định. Tiến trình mua của khách hàng tô chức có khuynh hướng đúng quy cách hơn so với tiến trình mua của người tiêu thụ.
Các cuộc mua của khách hàng tổ chức thường yêu cầu khá cao về những chỉ tiết kỹ thuật của sản phẩm, thảo luận các yêu cầu về mua hàng, các nghiên cứu kỹ lưỡng về nhà cung cấp và sự phê chuẩn chính thức. ~ Khách hàng cá nhân: Quyết định mua của khách hàng này thường có tính ít phức tạp hơn khách hàng tô chức. Việc mua sắm của người tiêu dùng. chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý.
GIA TRI KHACH HANG 1. Khái niệm giá trị khách hàng Ngày nay, khách hàng có nhiều quyền hơn trong việc lựa chọn đối với I những sản phẩm va dịch vụ ma họ muốn mua. Sự lựa chọn của khách hang căn cứ vào nhận thức của chính họ về chất lượng và giá trị của sản phẩm, dịch vụ. Các doanh nghiệp cần nắm được những yếu tố quyết định giá trị và sự thỏa mãn của khách hàng.
“Giá tri danh cho khách hàng là sự chênh lệch giữa tổng giá trị khách hàng nhận được so với tổng chỉ phí của khách hàng. Tổng giá trị khách hàng là toàn bộ những lợi ích mà khách hàng trông đợi một sản phẩm hay dịch vụ nhất định ”. Tông chỉ phí của khách hàng là toàn bộ chỉ phí mà khách hàng bỏ ra để đánh giá, mua, sử dụng, và loại bỏ một sản phẩm hay dịch vụ. 52] Gia tăng giá trị cho khách hàng sẽ làm gia tăng lòng trung thành của khách hàng và thu hút khách hàng.
Chính điều này sẽ gia tăng lợi nhuận cho. Phân loại giá trị khách hàng Các yếu tố quyết định giá ï của khách hàng: [8, tr. 47] Giá trị dành cho khách hàng. Tổng giá trị của Tổng chỉ phí khách hàng, của khách hàng, Giá Giá Giá Giá Giá || Chỉ | | Chỉ | | Chỉ trị sản trị trị trị mua | | phí phí phí phẩm || dịch || hình | | nhân thời | | công | | tỉnh vụ ảnh sự gian | | sức | | thần Hình 1.1: Mô hình phân tích giá trị khách hàng Những giá trị mà tổ chức có thẻ mang đến cho khách hàng được chia làm 2 loại cơ bản là giá trị chức năng và giá trị tâm lý.
~ Giá trị chức năng: Là những tiện ích xuất phát từ chất lượng và đặc tính 12 được mong đợi của sản phẩm hay dịch vụ. Các giá trị chức năng sẽ được tạo ra thông qua các yếu tố giá, sự tiện dụng, tính sẵn có và công nghệ khi khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ. Những giá trị chức năng là cần thiết nhưng không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tô chức, nó rất dễ bị sao chép. ~ Giá trị tâm lý: Những giá trị tâm lý thường khó sao chép hơn và nó không nhắn mạnh dé tố giá.
Giá trị sẽ được tạo ra mỗi khi khách hàng cảm nhận họ được chào đón, họ quan trọng và được quý trọng. Tổ chức có thể tạo ra giá trị khi họ sử dụng những lao động có năng lực, thân thiện và có ích. Những giá trị có thể tạo ra những cảm xúc cho khách hàng mới là những giá trị bền vững. Cả hai giá trị này đều quan trọng.
Tuy nhiên, những mối quan hệ khách hàng thật sự không thể tạo thành nếu chỉ dựa trên những giá trị chức năng. Quan hệ khách hàng yêu cầu sự kết nối cảm xúc giữa tổ chức và những khách hàng của tổ chức. Giá trị tâm lý sẽ bền vững hơn nhưng lại khó có được. KHÁI QUÁT VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HAI 1.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng Quản trị quan hệ khách hàng (CRM - Customer Relationship Management) ra đời vào giữa thập niên 90, đã cung cấp cho các nhà làm Marketing khả năng thu thập và tích lũy dữ liệu về hành vi mua của khách hàng trên một cơ sở dữ liệu cá nhân. Nhìn chung, khái niệm về CRM được xác định theo nhiều quan niệm của nhiều tác giả khác nhau: Theo Bryan Bergeron: CRM là quá trình quản trị năng động mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp để khách hàng quyết định tiếp tục trao. đổi thương mại có lợi cho cả đôi bên và ngăn cản họ tham gia vào những, cuộc trao đổi không sinh lợi cho doanh nghiệp. [4] Theo Don Peppers và Martha Rogers: CRM là quá trình ra các quyết 13 định quản trị với mục tiêu sau cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua các mối quan hệ tốt hơn với các khách hàng dựa trên cơ sở cá biệt theo khách hàng.
Reinartz: CRM là việc khai thác và phân tích các CSDL Marketing và sử dụng các công nghệ thông tin nhằm đánh giá tình hình của doanh nghiệp và xác định các phương pháp cho phép cực đại giá trị lâu dài (lifetime value) ciia từng khách hàng đối với doanh nghiệp.