Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Kho bạc nhà nước. Thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Kho bạc nhà nước.
Thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực luôn được các quốc gia và các tổ chức chú trọng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Nền kinh tế trí thức đòi hỏi các quốc gia và các tô chức phải chuyển hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực từ chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanh chất lượng của nguồn nhân lực. Ở nước ta, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước.
Nhiều công trình khoa học của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu về phương hướng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực cũng được công bố trên các sách báo. + Phát triển nguồn nhân lực — kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta do Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996). Cuốn sách giới thiệu về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thể giới. + Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế Thế giới (2003).
Cuốn sách đã giới thiệu các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực trong phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó cũng là bài học cho. 'Việt Nam trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực.
+ Doanh nghiệp Việt Nam 2007, Lao động và phát triển nguồn nhân lực (2008): Đây là báo cáo thường niên về Doanh nghiệp Việt Nam của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) do TS. Phạm Thị Thu Hằng là chủ biên. Các tác giả đã đánh giá tổng quan về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, công nghệ và tiếp cận thị trường trong 6 ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất chế thực phẩm) bị ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam gia nhập WTO từ các vấn đề lao động và phát triển nguồn nhân lực. Phần III của báo cáo là Lao động và phát triển nguồn nhân lực.
Phần này phân tích về thực trạng lao động và phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở xem xét, so sánh tác động của yếu tố lao động đối với các ngành đã nêu, đồng thời đưa ra giải pháp chiến lược đối với việc phát triển nguồn nhân lực của các ngành này, Đây là những đóng góp có giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cho cả các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam. + Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay do.Trần Thị Nhung và PGS. Nguyễn Duy Dũng đồng chủ biên (2005). Các tác giả đã phân tích hiện trạng phát triển nguồn nhân lực, các phương thức đào tạo lao động chủ yếu trong các công ty Nhật Bản từ những năm 1990 đến nay.
Tác giả đã nêu ra một số gợi ý và kiến nghị về sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và trong các công ty nói riêng trong thời gian tới. + Luận văn thạc sỹ: “Phát triển nguồn nhân lực tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam — Chỉ nhánh Hải Vân”. Thông qua ba chương trong luận văn, tác giả đã trình bày một cách tóm tắt nhưng đầy đủ các cơ sở lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực (tập trung vào các phương pháp phát triển nguồn nhân lực) dựa trên cơ sở những nghiên cứu đã được công bố công khai của các tác giả trong và ngoài nước Tác giả đã nêu ra những thiếu hụt về năng lực của nguồn nhân lực, những tồn tại trong công tác phát triển nguồn nhân lực và nguyên nhân của những hạn chế đó tại BIDV - Hải Vân. Nhận rõ thực trạng và dụa trên các quan điểm của BIDV - Hải Vân „ tác giả đã đưa ra những định hướng và kiến nghị nhằm phát triền hoàn thiện nguồn nhân lực của BIDV - Hải Vân.
Những tài liệu trên, các tác giả sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp tông hợp, phân tích, so sánh để phân tích và đánh giá các kết quả số liệu thống kê trong quá khứ, từ đó rút ra những ưu, nhược điểm, làm cơ sở đưa ra những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn Trong các nghiên cứu nêu trên, tuy nội dung chủ yếu là đề cập đến phát triển nguồn nhân lực, mỗi một nghiên cứu có một đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau và tại Kho bạc Nhà nước thành phố Đà Nẵng chưa có nghiên cứu nào liên quan đến này. Với đề tài “Phát triển nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Thành phố Đà Nẵng”, tác giả dựa trên cơ sở tham khảo từ một số luận văn thạc sỹ bảo vệ trước đây, nhất là cơ sở lý luận của những đề tài đó và trên cơ sở tham khảo được từ nhiều nguồn tài liệu, giáo trình về phát triển nguồn nhân lực, cùng sách của một số học giả đã được biên soạn và được biên dịch từ tài liệu nước ngoài, tác giả đã chọn lọc để tiến hành nghiên cứu đề tài này. Tóm lại, đã có một số nghiên cứu hoặc báo cáo khang định ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nắm bắt được những vấn đề nêu trên, kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, tác giả chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nước Thành phố Đà Nẵng”.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN 1. KHAI QUAT VE NGUON NHAN LUC VA PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Nguồn nhân lực a. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thê con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động [1]. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực [8] “Thể lực chỉ sức lực của con người, trí lực là năng lực trí tuệ. Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuôi tác, thời gian công.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người Nhân lực được hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ lao động, sức mạnh của cán bộ, công chức trong tô chức. Sức mạnh đó phải được kết hợp của các loại người lao động và của các nhóm yếu tố: sức khoẻ, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tô chức cần và huy động cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức.
Nhân lực còn gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác của quá trình hoạt động của tô chức. Từ những vấn đề trên, có thể hiểu khái niệm nhân lực như sau: Nhân lực hiểu một cách khái quát là sức người. Cụ thể hơn, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, nằm trong mỗi con người và cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người.
Nhờ sức lực đó phát triển đến mức độ cần thiết, con người tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị, văn hoá, xã h b. Nguôn nhân lực Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, do đó có nhiều. khái niệm khác nhau. Nguồn nhân lực được hiểu như là nguồn lực của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thẻ nguồn lực từng cá nhân con người. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [1].
Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực cơ bản của mỗi quốc gia là tổng thể tiềm năng lao động của con người. Theo Begg, Fircher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiêu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con 10 người tích luy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích luỹ kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống.
Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi như những. năm bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể iện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiễu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của con người lao động.