Chương I: Dịch vụ và chính sách phát triển dịch vụ thông tin di động Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm dịch vụ viễn thông khu vực HI Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm dịch vụ viễn thông khu vực II Chwong 1 DỊCH VỤ VÀ CHÍNH SACH PHAT TRIEN DICH VU 1.1 Dịch vụ và dịch vụ thông tin di động.1 Khái niệm dịch vụ Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm dịch vụ. Chẳng hạn như Philip Kotler cho rằng dịch vụ là một loại hoạt động hay lợi ích mà một thành viên có thể cung cấp cho thành viên khác, nhất thiết phải mang tính vô hình và không. dẫn đến sở hữu một vật chất cụ thẻ nào cả. Hoặc cũng có thể phát biểu theo một cách khác: Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt được cung ứng cho khách hàng mục tiêu mà khi mua người ta không thể nhìn thấy chúng.
Chẳng hạn, sau khi chúng ta sử dụng dịch vụ điện thoại công cộng, chúng ta phải trả tiền nhưng không mang được cái gì theo và chẳng nhìn thấy sản phẩm dịch vụ này. Hoặc khi ta mua sản phẩm của nhà tư vấn, người ta đưa cho. ta một bản báo cáo, ta trả tiền cho họ không phải để mua giấy, mực mà mua chất xám của nhà tư van. Vậy, dịch vụ được định nghĩa là bất kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng nảy vô hình và không tạo ra bất kỳ sự sở hữu nào.
về vật chất cụ thé. Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng các hỗ trợ của sản phẩm vật chất.2 Dịch vụ thông tin di động Dịch vụ thông tin di \g là dịch vụ vô tuyến 2 chiều cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng nhiều loại dịch vụ trong phạm vi phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ thông tin di động đòi hỏi độ an toàn, tính bảo. mật và đặc biệt là đòi hỏi chất lượng cao.
Dịch vụ thông tin di động có đặc trưng là sử dụng công nghệ không dây. Do ưu thế của dịch vụ thông tin di động là thuê bao có thể di chuyển vị trí mà vẫn có 'PG Lê Thế Giới (Chủ biên), TS. Nguyễn Xuân Lăn, Quản trị Marketing, NXB Thông tin và Truyền thông, trang 193-194 thể sử dụng được dịch vụ cho nên dịch vụ này cảng ngày càng được ưu chuộng, đặc biệt đối với giới trẻ và những khách hàng năng động có nhu cầu thông tin thường. Chỉ với một máy điện thoại di động, thuê bao có thể sử dụng được nhiều dịch vụ viễn thông như thoại, nhắn tin, internet, truyền số liệu.
Chính vì những lý do đó dịch vụ thông tin di động ngày càng thu hút nhiều khách hàng sử dụng” 1.3 Các đặc điểm của dịch vụ - Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không giống những sản phẩm vật chất cụ thể, chúng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không cảm nhận được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua ching. Dé giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, uy tín và giá cả mà họ thấy. Vì vậy nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là "vận dụng những bằng chứng để làmg cho.
cái vô hình trở thành hữu hình", cố gắng nêu lên được những bằng chứng vật chất và hình tượng hóa món hàng trừu tượng của mình. ~ Tính không ồn định: Sản phẩm - dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được: Chất lượng dịch vụ ở những thời điểm khác nhau thì khác nhau, chất lượng dịch vụ có cao hay không là do sự cảm nhận của khách hàng trong tiêu dùng dịch vụ. Trong những thời gian khác nhau thì cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác. nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau.
Sản phẩm - dịch vụ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. - Tính không tách rời: Sản phẩm - dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Một sản phẩm - dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết quả của quá trình hoạt động của một hệ thống cấu trúc đó. Quá trình sản xuất gắn với việc tiêu dùng dịch vụ.
Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho chính mình. ~ Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất giữ va không thể vận chuyên từ khu vực này tới khu vực khác. Dịch vụ có tính mua hỏng. Hà Văn Hội (2003), Giáo trình thong tin động, NXB Bưu điện, trang 27 như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu dùng dịch vu bị giới hạn bởi thời gian.
Cũng từ đặc điểm này mà làm mắt cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng ` 1.2 Phát triển dịch vụ thông tin di động 1. Phát triển danh mục và chúng loại sản phẩm - dịch vụ 1. Danh mục sản phẩm — dịch vụ Danh mục dịch vụ còn gọi là phối thức dịch vụ, tập hợp tắt cả những loại dịch vụ mà người bán đưa ra để bán cho người mua. Danh mục dịch vụ được xác tu rộng, chiều dài, chiều sâu và sự phối thức sản phẩm - Chiều rộng cho biết doanh nghiệp có nhiều loại dịch vụ.
- Chiều dài là tổng số dịch vụ có trong tắt cả các loại dịch vụ của doanh. nghiệp, được tập hợp theo từng loại khác nhau. - Chiều sâu danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thê hiện bằng số kiều của. mỗi sản phẩm trong từng loại sản phẩm.
- Sự phối thức của sản phâm là mức độ mà các sản phâm khác nhau trong. danh mục quan hệ với nhau về mục đích sử dụng, các yêu cầu về sản xuất, phân phối, giá cả hay một số vấn đề khác. Bốn chiều của danh mục dịch vụ tạo cơ sở để hoạch định chiến lược sản phim — dich vụ của doanh nghiệp theo các hướng khác nhau tùy vào đội ngũ quản trị của doanh nghiệp vào mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của mình. Doanh nghiệp có thể thiết lập một danh mục sản phẩm - dịch vụ cung cấp ra thị trường một cách có hiệu quả bằng cách kéo dài, lấp đầy hoặc cắt giảm các sản phẩm - dịch vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu sử dụng đa dạng của khách hàng.
Với dịch vụ thông tin di động thì việc kéo rộng danh mục sản phẩm - dịch vụ theo chiều rộng hầu như không thể làm được, chỉ có thể kéo theo chiều sâu. Nguyễn Xuân Lân, Quản tri Marketing, NXB Thông tn và Truyền thông, trang 194-195 1. Chiing loqi san pham — dich vu Ching loai san phim — dịch vụ là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chế với nhau, bởi vì chúng thực hiện một chứng năng tương tự, được bán cho cùng một nhóm người tiêu dùng, qua cùng kênh như nhau hay tạo một khung giá cụ thể. 'Vấn đề chiều dài của chủng loại sản phâm - dịch vụ chịu ảnh hưởng của mục tiêu doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp đang tìm kiếm thị phần lớn và sự tăng trưởng thị trường sẽ đưa ra những loại sản phẩm - dịch vụ có chiều dài lon hon. Ho ít quan tâm đến trường hợp có một số mặt hàng không đóng góp được cho lợi nhuận. Những doanh nghiệp chú trọng nhiều đến khả năng sinh lời cao sẽ đưa ra những loại sản phẩm có chiều dài ngắn hơn và những mặt hàng được chọn lọc kỹ.2 Phát triển về chất lượng sản phẩm - dịch vụ 1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ: Một trong những cách thức quan trọng mà một doanh nghiệp dịch vụ có thẻ tạo sự khác biệt bằng cách cung ứng một cách nhất quán chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh. Chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với đáp ứng mong đợi của khách hàng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.
Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng mục tiêu. Chất lượng do khách hàng quyết định. Chất lượng là phạm trù mang tính chủ quan. tùy thuộc vào nhu cầu mong đợi của khách hàng.
Chất lượng ngày càng được. xem là yếu tố quan trọng đối với dịch vụ, là căn cứ để khách hàng phân biệt, lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ trong số các dịch vụ cạnh tranh. Cùng một mức chất lượng dịch vụ nhưng khách hàng khác nhau sẽ có những cảm nhận khác nhau và ngay cả cùng một khách hàng cũng có những cảm nhận khác nhau ở các giai đoạn khác nhau. Quản lý chất lượng “Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 thì: Quản lý chất lượng là hoạt động tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và kiểm soát của một tô chức về chất lượng.
Hoạt động quản lý chất lượng bao gồm việc thiết lập chính sách và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng. Được hiểu cụ thé: - Hoạch định chất lượng - Kiểm soát chất lượng. - Dam bảo chất lượng. ~ Cải tiến chất lượng 'Việc nghiên cứu thị trường và khách hàng không chỉ trả lời câu hỏi khách hàng cần gì, cần bao nhiêu, cần vào thời điểm nào và khả năng thanh toán của khách hàng ra sao mà còn + khách hàng đồi hỏi chất lượng như thế nà chất lượng nào thỏa mãn khách hàng nhất.
Tuy nhiên sự đòi hỏi của khách hàng vẻ chất lượng là không có giới hạn, đẻ quyết định mức định lượng thích ứng công ty phải nghiên cứu mức chất lượng của những sản phẩm cạnh tranh thay thế. Từ đó định hướng quản lý chất lượng trong quá trình cung cấp sản phẩm - dịch vụ. Các hướng nâng cao chất lượng sản phẩm — dich vu ~ Nâng cao tính ứng dụng của sản phẩm - dịch vu - Hoàn thiện cấu trúc sản phẩm - dịch vụ ~ Nâng cao công tác chăm sóc khách hàng - Ứng dụng thành tựu công nghệ hiện đại 1.3 Phát triển về thương hiệu “Thương hiệu hay nhãn hiệu là một cái tên, cụm từ, dấu hiệu, biểu tượng thiết kế và kiểu dáng hoặc sự kết hợp những yếu tố này.