phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về cho vay ưu đãi Học sinh sinh viên Chương 2: Tình hình thực hiện cho vay ưu đãi HSSV có HCKK tại chỉ nhánh NHCSXH thành phố Đà nẵng. Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ưu đãi HSSV có HCKK tại Chỉ nhánh NHCSXH thành phố Đà nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tín dụng chính sách là một loại hình tín dụng mang tính đặc thù, phục vụ cho các đối tượng chính sách, trong đó tín dụng ưu đãi đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn là một chương trình cho vay theo chỉ định của Chính phủ, có đặc thù riêng khác hẳn với các loại hình cho vay khác của Ngân hàng thương mại. Trong thời gian qua, cũng có một số đề tài đề cập đến việc làm thế nào để đạt được sự hài lòng của khách hàng, việc nâng cao hiệu quả chương.
trình nhưng chỉ đề cập đến một số lĩnh vực như xã hội hoá nguồn vốn cho vay, giải pháp nâng cao hiệu quả vốn vay. mà chưa có nhiễu dé tai đề cập đến việc hoàn thiện hoạt động cho vay. Đề tài “Ajghiền cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam -Chỉ nhánh tỉnh Quảng Nam”. Luận văn thạc sỹ, Trường đại học kinh tế & QTKD Đà Nẵng của tác giả Lê Thị Trung Hoa (3/2014), téc gia sử dụng phần mềm chuyên dung SPSS dé đo lường mức độ hài lòng của khách hàng đối với chương trình, qua đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm.
nâng cao sự hài lòng của khách hàng khi vay vốn như nâng cao năng lực phục. vụ, cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị, tạo dựng lòng tin và hình ảnh ngân hàng, thành lập một bộ phận chuyên tư vấn và chăm sóc khách hàng, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến việc cải tiến quy trình thủ tục, đơn giản hóa thủ tục hành chính để làm hài lòng khách hàng, góp phần vào việc hoàn thiện hoạt động cho vay. Liên quan đến nguồn vốn, đề tài “Xã hội hóa nguôn vốn chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên”. Luận văn thạc sỹ, trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội của tác giả Hoàng Xuân Trường (201 1), tác giả đã hệ thống các vấn đẻ về tín dụng ngân hàng quy định về cho vay.
HSSV có hoàn cảnh khó khăn, thực trạng về nguồn vốn cho vay. Từ đó tác giả đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, định hướng phát triển nguồn vốn cho vay HSSV trong thời gian tới, hướng tới xã hội hoá nguồn vốn cho vay HSSV để đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay vốn của HSSV. Tuy nhiên, đây chỉ là một khía cạnh cần quan tâm trong hoạt động cho vay HSSV, để đánh giá hiệu quả của chương trình cần đánh giá nhiều khía cạnh khác. Đối với chương trình cho vay hộ nghèo, quy trình cho vay, việc bình xét vay vốn, giao nhận biên lai thu lãi.
được thực hiện giống như cho vay HSSV. thông qua hộ gia đình nhưng khác nhau giữa hai chương trình là mục đích vay, cho vay hộ nghèo tác động trực tiếp đến kinh tế hộ gia đình còn cho vay HSSV có tác động gián tiếp, đề tài “Hodn thiện hoạt động tín dụng ưu đãi hộ nghèo tại Chỉ nhánh NHCSXH thành phó Đà Nan}. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai Hoa (201 1), trường Đại học kinh t&QTKD Đà Nẵng tác giả đã nêu ra những mặt được, chưa được trong công tác cho vay và đưa ra các giải pháp rất hữu ích như cần có biên chỉ dẫn đến điểm giao dịch lưu động để thuận tiện cho người dân, tăng quy mô giao dịch 56/56 xã, phường, tăng cường công tác đảo tạo tập huắn, nâng cao chất lượng các cuộc họp giao ban giữa ngân hàng, chính quyền địa phương và Hội đoàn thể, nâng mức cho. hầu hết các giải pháp đưa ra đến nay đã được NHCSXH TW và 'NHCSXH thành phố thực hiện, nhưng trong khuôn khổ cho phép, tác giả chưa xoáy sâu vào quy trình nghiệp vụ, đơn giản hóa các thủ tục không cần thiết, ngăn chặn tình trạng chiếm dụng xâm tiêu.
Trong bài viết “Chính sách hỗ trợ sinh viên-vấn đề đặt ra hiện nay" trên trang (www.vn) của tác giả Phùng Văn Hiển (4/2014), Học viện Hành Chính đã đề cập một số vấn đề tồn tại cần giải quyết như: trách nhiệm trả nợ vốn vay thuộc về gia đình sinh viên hay sinh viên vẫn chưa được. người vay nhận thức đúng, mức vay hiện nay là thấp nhưng nếu nâng lên 1,5 triệu đồng/ tháng thì nguồn vốn cho vay không thể đáp ứng, thời gian trả nợ là sau 12 tháng khi sinh viên ra trường là chưa phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. để giải quyết thỏa đáng các thách thức đặt ra, cần có các giải pháp đồng bộ, nhất quán từ các Bộ, ngành và NHCSXH cùng phối hợp thực thi, tac giả chưa đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng trường hợp. Để thực hiện luận văn này, tác giả cũng tham khảo nhiều tài liệu, các nghiên cứu của một số tác giả khác với những góc độ khác nhau, đặc biệt là được sự hướng dẫn tận tình của TS Võ Duy Khương, Trưởng ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH thành phố Đà Nẵng, tác giả mong muốn có những hướng đi mới với các giải pháp cụ thể, rõ ràng nhằm khắc phục những.
tồn tại yếu kém mà Chỉ nhánh NHCSXH dang gap phải hiện nay trong hoạt đông cho vay HSSV có HCKK. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHO VAY UU DAL HQC SINH, SINH VIEN 1. KHÁI NIỆM TÍN DỤNG, TÍN DUNG UU DAL, CHO VAY UU DAL 1. Tin dung Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa người đi vay và cả cho vay hay nói cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức.
khác với thời hạn hoàn trả, cùng với lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi món vay. Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện nền kinh tế cần tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thi sự tồn tai tín dụng là một tất yếu khách quan. Tín dụng wu dai Tín dụng ưu đãi là một loại tín dụng đặc biệt mà người cho vay dành cho.
người đi vay hưởng những diều kiện thuận lợi hơn những người vay thông thường khác. Cho vay ưru đãi Cho vay ưu đãi là việc bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên đi vay trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất ưu đãi (tức là thấp hơn lãi suất thị trường). CHO VAY ƯU ĐÃI HỌC SINH, SINH VIÊN 1. Đặc điểm đối tượng Học sinh sinh viên Có thể thấy rằng, diện mạo của học sinh, sinh viên Việt Nam trong.
những năm gần đây có những thay đổi nhất định. Thế hệ trẻ ngày nay có. nhiều điều kiện, cơ hội để tiếp cận thông tin mới, mở rộng kiến thức cũng như. rèn luyện kỹ năng về mọi mặt.
Vì thé, bên cạnh những đặc điềm chung của thanh niên Việt Nam, cộng với những ưu thế riêng của thế hệ mình, học sinh, sinh viên Việt Nam ngày nay có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, đó là những con người trẻ, khỏe, đầy nhiệt huyết, năng động, sống có hoài bão ước mơ, dám nghĩ dám làm.Đây chính là thế mạnh của họ. Lớp trẻ là nguồn nhân lực đông đảo, sung sức với ý chí và quyết tâm cao. trong suy nghĩ cũng như trong hành động. Họ là những con người luôn có ý thức về trách nhiện của mình vớ bản thân, gia đình và xã hội.
Họ bi đứng trên đôi chân của mình, dám mạnh dạn đưa ra những quyết định táo bạo và dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Họ luôn ý thức được rằng, mình là công dân ngang hàng với mọi công dân khác về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước. Thứ hai, đó là những con người thích ứng nhanh, dễ hòa nhập với hoàn cảnh bên ngoài và những thay đôi của thế giới. Ai cũng biết xã hội là một cơ thể sống luôn vận động biến đổi không ngừng.
Vì vậy, không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thê trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Điều kiện lịch sử xã hội vận động biến đổi thì con người cũng phải thay đổi theo cho phù hợp. Sự thích nghỉ với môi trường và điều kiện hoàn cảnh bên ngoài không phải ai cũng có thể dễ dàng thay đổi và kịp thời hòa nhập. Trong xã hội, có thể nói thế hệ trẻ là những người năng động nên họ dễ thích nghỉ nhất.
Thứ ba, thế hệ trẻ thường thích giao lưu và ham học hỏi cái mới. Ai cũng biết, tuổi trẻ thường đi đôi với tính ham học hỏi và khám phá cái mới. Họ luôn là những con người tiên phong trong công cuộc tìm tòi và chỉnh phục cái mới. Sức trẻ đã tiếp thêm niềm tỉn, nghị lực để họ dám bước vào những con đường thậm chí là chéng gai, ghénh thac.Tudi trẻ luôn đồng hành với những.
phiêu lưu, khám phá. Họ không bảo thủ hoặc quá dè chừng trong khi di tìm cái mới. Họ là những người năng động, nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Thứ t, thế hệ trẻ cũng là những người dễ bị kích động, lôi kéo.
Ai cũng biết, thế hệ trẻ là những người sung sức và tràn đầy nhựa sống. Họ là những. con người năng động, thông mình, dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm. Tuổi trẻ đã cho họ tình yêu và đầy lòng nhiệt huyết.
Họ là những con người thích thể n va muốn chứng minh cho người khác về bản lĩnh của mình. Chính vì thế, trong cuộc sống, nếu không được định hướng đúng đắn, họ cũng rất dễ bị lôi kéo, kích động. Lớp trẻ đầy nhiệt huyết với sự quyết tâm, nhưng lớp trẻ cũng là đối tượng còn non nớt, bồng bột, chưa chín chắn.