CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE MARKETING NGAN HANG THUONG MAI 1. TONG QUAN VE MARKETING NGAN HANG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm cơ bản về Marketing ngân hang Là một lĩnh vực đặc biệt, phong phú và đa dạng, marketing trên thế giới vẫn đang còn trong quá trình vận động và phát triển. Marketing đóng vai trò rất lớn trong tăng trưởng, phát triển kinh tế, là động lực kích thích việc nghiên cứu, tìm ếm và đưa ra các tư duy mới.
Marketing có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. của mọi người, hiệu quả của nó vô cùng quan trọng trong cả giai đoạn hiện tại và tương lai của mọi nền kinh tế. Không nằm ngoài quy luật đó, lĩnh vực ngân hàng cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng lớn của hoạt động marketing va dan hình thành nên chuyên ngành Marketing ngân hàng. Là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đặc biệt nên những lý luận về marketing dịch vụ ngân hàng vẫn tiếp tục được hoàn thiện theo đà phát triển và vận động của của marketing trên thé giới.
Marketing, Marketing ngân hàng * Marketing là gì? Thật khó chính xác và trọn vẹn để đưa ra một định nghĩa về Marketing nói chung. Xuất phát từ vị trí, đặc trưng, đối tượng, nhiệm vụ. khác nhau của từng lĩnh vực để có một định nghĩa hợp lý về marketing từng chuyên ngành. Một số định nghĩa phổ biến như: + Định nghĩa của Ph.
Kotler (Mỹ): "Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thê có được những gì họ can va mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác (1) Philip Kotler (2003), Quản trị Markering, Nhà xuất bản thống kê, tr. 12 + Định nghĩa của Học viện Quản lý Malaysia: "Marketing là nghệ thuật kết hợp, dụng các nội lực thiết yếu nhằm khám phá, sáng tạo, thỏa mãn và gợi lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận" + Định nghĩa từ Hiệp Hội MKT của Mỹ - American Marketing Association (AMA) "Marketing là một tiến trình bao gồm vạch kế hoạch và thực hiện các quan niệm, định giá, khuyến mãi, sự phân phối các tư tưởng, hàng hóa, dịch vụ để tạo ra một sự trao đổi có khả năng làm thỏa mãn/hải lòng các mục tiêu khác nhau của cá nhân và các tổ chức." 'Như vậy, có thể nói marketing vận dụng tắt cả các nguồn lực sáng tạo đề thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng một cách tốt nhất. *Marketing dich vu 'Từ khái niệm đó, đi sâu vào nghiên cứu marketing dich vụ cũng có nhiều quan điểm đề cập đến. Một số quan điểm đáng chú ý như: + Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm dịch vụ, tác động làm thay đổi cầu và việc định giá cũng như phân phối và cổ động (Ph.
Kotler), + Marketing dich vu là sự thích nghỉ lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua sự phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Xét chung lại có thể nói marketing dịch vụ sử dụng các nguồn lực tác động vào toàn bộ quá trình từ tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ phù hợp với đặc điểm tiêu dùng riêng có của sản phẩm dịch vụ.
“Marketing ngdn hang Marketing ngân hàng là một quá trình quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đặt ra là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Thị trường và thị trường mục tiêu của ngân hàng Đề cập đến marketing nói chung hoặc marketing ngân hàng nói riêng luôn phải xác định trên thị trường mục tiêu của nó. Chính vì thế khái niệm thị trường. mục tiêu luôn gắn với các khái niệm cơ bản về marketing.
Đề nghiên cứu thị trường mục tiêu của một ngân hàng trước tiên cần phải hiểu thị trường là gì. Thị trường của một ngân hàng là một tập khách hàng, người cung ứng hiện thực và tiềm năng có nhu cầu, thị trường được ấn định rõ ràng về một loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong danh mục sản phẩm của ngân hàng hoặc có dự án kinh doanh trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường marketing và tập các tổ chức tín dụng là các đối thủ cạnh tranh của nó. Thi trường mục tiêu của một ngân hàng là phần thị trường mà trong đó đang hoặc sẽ diễn ra các quá trình kinh doanh của mình mà ngân hàng có dự án khai thác trong thời gian trước mắt. Sản phẩm của ngân hàng * Khái niệm sản phẩm, dịch vụ do ngân hàng cung cấp: Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là một dạng hoạt động, một quá trình, một kinh nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cẩu và mong muốn của khách hàng mục tiêu.
Nhu vay sản phẩm ngân hàng tồn tại dưới dạng dịch vụ mang bản chất tài chính. Các ngân hàng thiết kế sản phẩm dựa trên quan niệm đó là một đập hợp các ích lợi mang đến sự thoả mãn khách hàng mục tiêu. * Đặc trưng của dịch vụ ngân hàng : + Tính vô hình Dịch vụ thường là một quá trình và kinh nghiệm hơn là những vat thé , do (2) TS Trịnh Quốc Trung (2008), Marketing ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê Thanh phố Hồ Chí. đó không thể ấm giữ được.
Tính vô hình làm cho dịch vụ rất khó đánh giá về chất lượng và khách hàng thường khó khăn khi cân nhắc trong giai đoạn khi mua, họ chỉ có thể kiểm tra chất lượng trong quá trình mua và sau khi mua mà thôi. Do đó các ngân hàng phải thấy rằng yếu tố cơ bản để khách hàng lựa chọn một tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính cho họ chính là sự tin tưởng đối với tô chức đó. + Tính không tách rời Tinh khéng tách rời hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý. hoặc được trải nghiệm.
Do đó dịch vụ trở thành một hành động xảy ra cùng với sự hợp tác của người tiêu dùng và nhà cung cấp — ngân hàng. Các dịch vụ được bán rồi mới sản xuất và tiêu dùng cùng lúc. Do đó sản xuất và marketing trở thành một quá trình tương tác lẫn nhau. Những nhân viên trực tiếp phục vụ khách hàng trong các dịch vụ đóng vai trò bắc cầu đối với quá trình sản xuất dịch vụ, và khách hàng tự họ trở thành những nhân viên "không bắt buộc” của một tô chức.
+ Tính không đồng nhất Đặc trưng của tính không đồng nhất trong sản xuất và tiêu dùng đã làm cho các dịch vu trở nên không ổn định hơn về mặt chất lượng. Mức độ không ồn định bị ảnh hưởng bởi việc nhà cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều nhân lực hoặc máy móc trong quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Nếu sự tham gia của yếu tố con người nhiều hơn, thì tiềm năng về chất lượng dịch vụ có thể lớn hơn. Các ngân hàng và định chế tài chính về truyền thống là những tổ chức thiên về con người; hầu hết khách hàng trước đây đều giao tiếp trực diện với nhân viên giao dịch quây trong các chỉ nhánh.
Tuy nhiên, ngày nay với sự xuất hiện ngày càng nhiều công nghệ mới đã cho phép các dịch vụ có thể phụ thuộc nhiều hơn vào máy móc và cho phép các ngân hàng cung cấp các dịch vụ có tính chuẩn hoá hơn thông qua việc sử dụng máy. ATM (Automatic Teller Machine), dịch vụ ngân hàng điện thoại và dịch vụ ngân hàng tại nhà trực tuyến. Từ góc độ người mua, những biến đồi chất lượng dịch vụ và việc thực hiện không nhất quán chỉ làm tăng rủi ro của việc mua sắm về tình trạng không chắc chắn, rõ rằng khi mua sắm trở nên lớn hơn. Ngay cả khi việc marketing và việc chuyển giao một sản phẩm đầu tư có thể được chuẩn hoá thì kết quả cuối cùng vẫn có thể là không chắc chắn do hàng loạt các yếu tố khác nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng và các định chế tài chính khác.
+ Tinh mau hong Đặc trưng của tính mau hỏng thể hiện bản chất tức thời của sản phẩm xảy ra như là kết quả của việc sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Van dé vé tinh mau hong đối với những nhà cung cấp dịch vụ là họ không thê hình thành và duy trì hàng tồn kho. Do đó, những thay đổi về nhu cầu của thị trường dịch vụ không thể được đáp ứng giống như đối với thị trường hàng hoá khác. Do đó, nhiệm vụ quan trọng của.
nhân viên marketing trong các tổ chức dịch vụ là tìm cách thức san bằng mức độ nhu cầu và làm tương thích với năng lực cung cấp của nhà cung cấp. + Trách nhiệm uỷ thác Trách nhiệm uỷ thác đề cập đến trách nhiệm ngầm định của tô chức cung. cấp dịch vụ của ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn của khách hàng và bản chất của những lời tư vấn tài chính cung cấp cho khách hàng của họ. Trong những cuộc gặp gỡ mang tính marketing của các ngân hàng thì khách hàng về cơ bản đang mua một tổ hợp các lời hứa: ngân hàng hứa sẽ chịu trách nhiệm quản lý, trông coi các nguồn vốn và những vấn đề tài chính của khách hàng.
Do đó, sự tín nhiệm và tin tưởng đối với ngân hàng và các nhân viên của họ là đòi hỏi có tính bắt buộc. Tuy nhiên, sự tín nhiệm và tin tưởng chỉ có thể đạt được như là kết quả của việc trải nghiệm cùng với ngân hàng và nhân viên của họ - điều này lý giải tại sao khách hàng phụ thuộc vào những dấu hiệu khác (như quy mô, hình ảnh và thời gian hoạt động của ngân hàng) làm chỉ dẫn trước khi mua một lời hứa có thể được thực hiện từ ngân hàng. + Dòng thông tin 2 chiều. Dịch vụ ngân hàng không đơn thuần là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch 2 chiều thường xuyên trong một khoảng thời gian cụ thể.