Chương I: Cơ sở lý luận về xử lý nợ có va tủa NHTM. Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ có vấn đề tại Chi nhánh ngân. hàng TMCP Công thương Bắc Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác xử lý nợ có vấn đề tại Chỉ nhánh ngân hàng TMCP Công thương Bắc Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để hoàn thành đề tài, tác giả đã nghiên cứu và tìm hiểu nhiều công trình liên quan đến các giải pháp xử lý nợ như sau: * Giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của TS Phạm Quốc Khánh- Học viện ngân hàng. Bài viết đã nhận đinh: Tình hình nợ xấu hiện nay của các NHTM đã được nghiên cứu và thảo luận trên nhiều khía cạnh với sự than gia của các cơ quan Chính phủ, các tổ chức, các nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước. Kinh nghiệm và thông lệ quốc tế trong xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng có rất nhiều, vấn đề là lựa chọn nghiên cứu ứng dụng tình huống nào là phù hợp trong điều kiện hoàn cảnh Việt Nam, nhất là hệ thống quản trị hạn chế của các NHTM và các doanh nghiệp, thông tin thiếu minh bạch và độ tin cậy không cao. Tác giả đã tập trung giải quyết hai vấn đề mang tính kỹ thuật trọng yếu đó là: (1) nhóm nợ nào cần được ưu tiên xử lý trước (trong phần ngắn hạn) thông qua biện pháp tái cơ cấu và hỗ trợ khách hàng.
(2) Số tiền cần thiết để Chính phủ xử lý thông qua mua lại nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ nguồn nào ? Để xử lý nợ xấu thì bản thân các NHTM và cơ quan của Chính phủ phải thực hiện đánh giá thực trạng các khoản nợ xấu, tuy nhiên nếu chỉ dựa vào tiêu chí phân loại nợ thì sẽ không thể thực hiện được. Việc lựa chọn nhóm nợ xấu để ưu tiên xử lý sẽ đáp ứng được sự giới hạn về nguồn lực cũng như đảm bảo khơi thông vốn tín dụng. Tác giả đã đề xuất nhóm tiêu chí về triển vọng ngành/vùng, NHTM nên tập trung vào xử lý nợ cho ngành /vùng có kinh nghiệm, lợi thé truyền thống trong cấp tín dụng, trong đó ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, nhất là những ngành có thị trường ôn định và có khả năng mở rộng thì trường. “Tiêu chí thuộc về triển vọng khách hàng bao gồm: thành phần kinh tế, qui mô hoạt động, năng lực quản trị và kiểm soát nội bộ; nợ xấu so với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, tài sản của khách hàng; nguyên nhân nợ xấu của khách hàng; công nghệ sử dụng trong hoạt động kinh doanh.
Tác giả đã dựa trên kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia thông qua số tiền đã bỏ ra mua lại các khoản nợ xấu để xử lý, hình thức chủ yếu là bán lại các khoản nợ, tài sản kèm theo qua đấu giá. Nguồn dùng để mua lại chủ yếu từ ngân sách Chính phủ. Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vượng-VP bank ” của tác giả Nguyễn Ngọc Tâm năm 2010. Tác giả dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã đưa những giải pháp phòng ngừa nợ xấu; Hoàn thiện chính sách đảm bảo nợ vay; Tăng cường vai trò kiểm tra kiểm tra, giám sát tín dụng độc lập; Chuyển nợ thành vốn góp và tái đầu tư để giải phóng khoản nợ xấu nhằm minh bạch hoạt động tín dụng của NHTM.
Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh * Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai” của tác giả Nguyễn Thi Thu Hien nim 2011 đã đưa các giải pháp hạn chế nợ xấu như chấp hành đúng qui trình cho vay; Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng để phân tán rủi ro; Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tín dụng và cán bộ quản lý; Hạn chế giải ngân bằng tiền mặt. Ngoài ra đề tài còn tham khảo kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới như: ở Anh; Ở Mỹ. Trên cơ sở đó đề tài đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm xử lý tốt các khoản nợ xấu của các NHTM trên địa bàn khu vực. Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh “ Xử lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Công thương Hai Bà Trưng Hà Nôi thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Trung Hiếu năm 2012 đã đưa ra các giải pháp thúc day thị trường mua ban ng; Đây nhanh việc chuyển nợ thành vốn cô phần của ngân hàng dựa trên cơ sở tiến trình đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; Đấu giá quyền giảm ng ACCORD “ Auction-based Creditor Ordering by Reducing Debt”; Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng từ những ứng dụng nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu.
Để hạn chế nợ xấu, tác giả đã đưa ra mô hình quản trị rủi ro như tách bạch giữa chức năng bán hàng với chức năng thẩm định, đề cao trách nhiệm pháp lý của cán bộ quan hệ khách hàng. Các giải pháp xử lý nợ - chủ yếu là nợ xấu tại các NHTM nói chung đã được đề cập ở một số công trình nghiên cứu trước đây. Ở cấp độ thạc sĩ có một số đề tài liên quan đến xử lý nợ xấu của NHTM, tuy nhiên phần lớn các đ lài mới chỉ đề cập đến xử lý “nợ xấu” ở phần nội bảng cân đối kế toán ngân hàng mà chưa quan tâm đến nợ tiềm ẩn rủi ro nhưng ở cấp độ thấp hơn nợ xấu, tiền đề của nợ xấu - (nợ cơ cấu nhóm I và nợ nhóm 2) và những khoản nợ xấu không thu hồi được phải dùng nguồn trích lập dự phòng của ngân hàng đề xử lý đưa ra ngoại bảng cân đối kế toán. Mặt khác qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu nói trên, chưa thấy có nghiên cứu nào về giải pháp xử lý nợ có vấn đề - bao gồm cả nợ nội bảng và ngoại bảng tại Ngân hàng TMCP Công thương Chỉ nhánh Bắc Đà Nẵng.
Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “ Giải pháp tăng cường xử lý nợ có vấn đề tại NHTM CP Công thương VN- Chi nhánh Bắc Đà Nẵng” đây là điểm mới khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước đây. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE XỬ LY NO CO VAN DE CUA NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RUI RO TIN DUNG VA NQ CO VAN DE TRONG HOAT DONG KINH DOANH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Rủi ro tin dung (credit risk) a.
Khái niệm Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng (RRTD) có thể dẫn ra như sau: Theo khái niệm cơ bản nhất thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hang là khả năng xảy ra tôn thất trong hoạt động ngân hàng của tô chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Đối với ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được nợ gốc và lãi của khoản nợ đã cho vay. Nếu tắt cả các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và đúng hạn cả nợ gốc và nợ lãi thì ngân hàng không bị rủi ro. Ngược lại, nếu khách hàng vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc có tình không trả nợ thì rủi ro tín dụng nảy sinh gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Qui định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD. ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN:” Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết ”. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như nghiệp vụ bảo lãnh; tài trợ thương mại; Cho thuê tài chí Rủi ro tín dụng gây ra những thiệt hại về tài chính mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với ngân hang. Rui ro tín dụng có thê gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thê dẫn đến ngân hàng bị phá sản.
Cần có sự phân biệt các thuật ngữ được đề cập trong các khái niệm về rủi ro tín dụng đó là: “rủi ro và tồn thất”. Khi ta hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất là khả năng khách hàng không thực hiện đúng cam kết, khả năng này có thể xảy ra, có thê không xảy ra; Khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng thực sự không thực hiện cam kết, số tiền mà ngân hàng không thu hồi được thì được là tổn thất và ngân hàng phải gánh chịu. Trong nội dung về quản trị rủi ro, Basel II cũng đề cập đến khái niệm tồn thất dự kiến (expected loss-EL) và tổn thất ngoài dự (unexpected loss- UL). Theo đó tồn thất dự kiến được coi là chỉ phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng.
Xét trong mối quan hệ rủi ro khác, rủi ro tín dụng không hoàn toàn độc lap nó tác động qua lại với các rủi ro khác như rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản. có thể rủi ro này là tiền đề của rủi ro khác, nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Rủi ro tín dụng được đánh giá là loại rủi ro cơ bản nhất trong công tác quản trị hoạt động ngân hàng, nó gây ra tổn thất lớn cho nền kinh tế và mang tính hệ thống. Phân loại rủi ro tín dụng Để quản lý được rủi ro, các nhà khoa học đã chia rủi ro tín dụng thành các loại sau: -_ Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh chia thành 2 loại: + Nguyên nhân khách quan: là rủi ro do sự kiện ngẫu nhiên, thường là do yếu tố bên ngoài tác động như: thiên tai, hỏa hoạn, người vay chết hoặc mắt tích.
và không lường trước được tổn thất. + Nguyên nhân chủ quan: thuộc về ý chí chủ quan của bên vay và bên cho vay làm thất thoát vốn.