Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE CÔNG TÁC QUAN LÝ LE HOI VA LE HOI DEN PU NHA THAU 1. Co sở ly luận 1. Lễ hội và lễ hội truyén thong Lê hội A Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian, là nơi phản ánh cuộc sống, mơ ước, khát vọng của con người, nơi bộc lộ cái tôi của mỗi người, mỗi dân tộc, là nơi mà bản sắc văn hóa dân tộc được biéu hiện rõ nét nhất [46, tr 35]. Vì vậy, lễ hội là nơi đáp ứng nhu cầu tâm linh, động viên tinh thần, nhu cầu giải trí, thé hiện sức mạnh, tài năng và tái hiện cuộc sống của con người.
Bởi vậy, khi nói đến lễ hội có rất nhiều tác giả và công trình nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm, định nghĩa về lễ hội. Theo Trần Quốc Vượng “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ hội (nghi lễ cúng Than, Thánh, Phật, Mẫu.) và phần hội (tụ hội của dân một làng hay liên làng (vùng)”. “Trên thực tế và về lý thuyết lễ - hội xoăn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời [76, tr. Ngô Đức Thịnh đã định nghĩa “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới.
Nó là tắm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [57, Tr. Theo Dương Văn Sáu, trong công trình nghiên cứu Lé hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, cho răng “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhăm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sự hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa 11 của con người với thiên nhiên — thân thánh và con người với xã hội” [47, tr. Theo Dinh Gia Khánh, trong cuốn LỄ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, cho răng “Trước hết phải nói rằng hội lễ là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài người trên cơ sở một nhu cầu không thể thỏa mãn của con người sống thành xã hội. Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc tức là dưới cộng sản nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội cộng sản văn minh sau này” [22, tr.
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về lễ hội, nhưng qua tất cả những ý kiến của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể hiểu: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cộng đồng diễn ra theo chu kỳ trong một không gian và thời gian nhất định bao gồm cả phần lễ và phần hội: Phần lễ là hệ thống những hành vi nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước nguyện chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Phần hội là sinh hoạt văn hóa, tập hợp các trò diễn mang tính nghi thức gồm các trò chơi đân gian phản ánh xoay quanh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đông. LỄ hội truyền thong Ngô Đức Thịnh định nghĩa “Lễ hội truyền thống còn được hiểu là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái văn hóa lịch sử, tương ứng với những mô hình xã hội tổ chức khác nhau, hay hiểu một cách đơn giản nhất lễ hội truyền thống là lễ hội của các xã hội truyền thống” [58, tr. 12 Ngô Đức Thịnh đã đưa ra ba đặc trưng về lễ hội truyền thống: Lễ hội gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục.
Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài các diễn xướng mang tính phon thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lai là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vân thuộc vê cái thiêng. Lé hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: Sinh hoạt tín ngưỡng, nghỉ lễ, phong tục, giao tiếp và gan kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian, các cuộc thi tai, vui chơi giải trí, 4m thực, mua bán. Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thé sánh được với lễ hội cô truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng, vừa nguyên hợp này. Chủ thé của lễ hội truyền thống là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc.
Nói cách khác, không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội [59, tr 100-101]. Trong cuốn Lễ hội dan gian của Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý và Nguyễn Thị Phương Châm cho rằng “Dùng thuật ngữ lễ hội truyền thống của Nhân dân ta trong quá khứ, khi mà rất nhiều trò chơi trong các lễ hội ấy đều nhuém màu thiêng liêng một cách có chủ ý của những người tô chức. LỄ hội bao hàm cả lễ và hội, là hai phần gắn bó chặt chẽ với nhau, đan quyện với nhau, bổ sung cho nhau.
Có thé tách bach ra dé nghiên cứu, xem xét nhưng luôn phải ghi nhận nó là một chỉnh thé” [74, tr. 13 Ngoài các quan điểm trên, tại Điều 3 của Nghị định 110/2018/ND- CP của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, có giải thích “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tô chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cau tinh thần của nhân dân” [67]. Như vậy, có thé hiểu, lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội, được sáng tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng các phương thức dân gian. Các thế hệ nối tiếp nhau duy trì bảo tồn và phát huy lễ hội theo hướng tích cực phù hợp với đời sống thực tại.
Quan lý văn hóa và quan lý lễ hội Quản lý Đề cập đến khái niệm quản lý, có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về quản lý. Tác giả Phạm Ngọc Thanh xác định rằng “Quản lý là hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý băng những công cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tô chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường” [55, tr 20]. Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thé vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhăm duy trì sự ồn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định” [25, tr 14]. Tóm lại, có thể hiểu quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động trực tiếp, liên tục của chủ thé quản lý đến khách thé quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thong luật lệ, chính sách, nguyên tắc và phương pháp cụ thé nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.
Trong quá trình quản lý, chủ thê 14 sẽ tiến hành các hoạt động cơ bản như: Xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh hoạt động đề thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Quan ly văn hóa Quản lý văn hóa có thé hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tô chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của cả nước. Nhìn vào thực tiễn, không khó dé nhận thấy quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan băng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thé quản lý (các cơ quan Dang, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thé (mọi thành phan/thanh tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn, bảo đảm văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu những tinh hoa cua văn hóa nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc.
Quán lý văn hóa là bao gồm lập kế hoạch, xử lý, giám sát và kiểm soát các chức năng quản lý trong bối cảnh quốc tế và đa văn hóa. Quản lý văn hóa giải quyết việc giảm thiểu xung đột văn hóa dé tăng hiệu quả tổ chức khi xem xét các biểu hiện của văn hóa cộng đồng và quốc gia. Quản lý văn hóa phức tạp về cả hành chính về cả lý thuyết. Về cơ bản, quan lý văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhăm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tô chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan.
15 Quản lý lễ hội Quản lý lễ hội là quản lý các hoạt động của lễ hội phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, quan lý còn nhằm củng có, bổ sung hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp có liên quan, mục đích sao cho lễ hội phát triển theo đúng định hướng phát triển của đất nước và phù hợp với quy luật của thời đại. Đồng thời việc quản lý cũng nhằm làm cho lễ hội vận hành theo đúng với thuần phong, mỹ tục và mang lại lợi ích cho cộng đồng và ngăn cản những hành vi lợi dụng lễ hội dé hoạt động tệ nạn xã hội.