CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất, chức năng và các loại thuế của doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế Khái niệm: Có nhiều cách tiếp cận khái niệm về thuế. Chẳng hạn: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Theo Tài liệu bồi dưỡng ngạch kiểm tra viên trung cấp thuế: “Thuế là khoản phải nộp bắt buộc của tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội”. [9] Đặc điểm của thuế: Thuế có một số đặc điểm sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc: Vì thuế là nguồn thu chính của nhà nước và nhà nước dùng số tiền đó cho việc cung cấp cho các lợi ích cho quốc gia như các cơ sở vật chất, quốc phòng, pháp luật, y tế, môi trường,…để phục vụ cho người dân. Tính bắt buộc để đảm bảo rằng mọi công dân phải đóng thuế.
Tính bắt buộc xuất phát từ việc nhà nước là người cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng ấy, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để nhân dân phải nộp thu. Đây là nghĩa vụ của mỗi công dân và đã được ghi nhận trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Tính chất không hoàn trả trực tiếp: Nghĩa là công dân sẽ không được nhà nước trả trực tiếp lại số tiền mà mình đã đóng, nhưng công dân sẽ được nhận lại gián tiếp qua việc được hưởng các dịch vụ công cộng mà nhà nước 11 sử dụng tiền thuế để tạo ra.
Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Các cá nhân, tổ chức đã nộp thuế cho nhà nước cũng không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Nhưng công dân có quyền nêu ý kiến của mình nếu số tiền thuế đóng quá cao mà trong khi đó mà nhận lại từ các dịch vụ quá thấp, nhân dân cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của ngân sách nhà nước thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao: Được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành tránh việc thu thuế tùy tiện.
Ví dụ như Hiến pháp của Việt Nam 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) có quy định rằng chỉ có Quốc hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các loại thuế. Bản chất, chức năng của thuế Bản chất của thuế: Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được qui định trong Hiến Pháp; thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước; thuế là một hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Chức năng của thuế: Thuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều chỉnh (điều tiết).
Các loại thuế đối với doanh nghiệp 1.1 Lệ phí môn bài a) Khái niệm “Lệ phí môn bài là một khoản thu được tính và thu vào đầu năm đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh” [9] 12 b) Người nộp Lệ phí Môn bài Theo quy định hiện hành, các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp lệ phí môn bài, trừ các trường hợp được miễn lệ phí môn bài theo quy định của pháp luật. Người nộp lệ phí môn bài là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ chức được thành lập theo luật Hợp tác xã. Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.
Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức nêu trên ( nếu có ). Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh.2 Thuế giá trị gia tăng a) Khái niệm “Thuế Giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ” [2] b) Đối tượng chịu thuế Giá trị gia tăng.
Là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành. ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế. 13 c) Đối tượng không chịu thuế GTGT Theo quy định hiện hành có 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ này có thể xếp theo tính chất và mục đích kinh tế - xã hội sau đây: Sản phẩm nông nghiệp, máy móc, thiết bị và dịch vụ sản xuất nông nghiệp.
Hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống cộng đồng, không mang tính chất kinh doanh. Hàng hóa, dịch vụ thuộc các ngành, lĩnh vực cân khuyến khích phát triển. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng kinh doanh chứng khoán. Hàng hóa mang tính chất đặc thu thuộc hoạt động an ninh quốc phòng.
Hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động ưu đãi vì mục tiêu chính trị, xã hội, nhân đạo. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu thấp. Các hàng hóa dịch vụ khác… d) Người nộp thuế GTGT Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hành hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ ngoài thuộc diện chịu thuế GTGT. Tổ chức, cá nhân, kinh doanh hàng hóa.
dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm: Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác. 14 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam. Cá nhân, hộ gia đình nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.
Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hành hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cơ trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế trừ trườg hợp không phảo kê khai tính thuế, tính nộp thuế GTGT theo quy định. Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được tha lập để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. f) Phương pháp tính thuế Phương pháp khấu trừ. Số thuế GTGT Số thuế GTGT Số thuế GTGT đầu vào = - phải nộp đầu ra được khầu trừ Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng nhân với thuế xuất thuế giá trị gia tăng Số thuế GTGT = Doanh thu x Tỷ lệ (%) trên doanh thu phải nộp 1.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp a) Khái niệm “Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định 15 thường là một kỳ kinh doanh” (theo Tài liệu bồi dưỡng ngạch kiểm tra viên trung cấp thuế).
b) Người nộp thuế TNDN: Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là Doanh nghiệp), bao gồm: Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp nàh nước; Văn phòng Luật sư;, Vănphòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung. Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hành hóa, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực; Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thướng trú tại Việt Nam. Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu trên có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ và có thu nhập chịu thuế.