Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu ngân sách nhà nước 1. Một số vấn đề cơ bản về thu Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm thu ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là phạn trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của Ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Theo Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam năm 2003, “Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” “Khi Nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tổn tại và hoạt động của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt buộc dân cư phải đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước. Lúc đầu, Nhà nước sử dụng nó để nuôi bộ máy Nhà nước, sau đó phạm vi sử dụng được mở rộng dần theo sự phát triển các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngày nay, Nhà nước còn dùng quỹ NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế.
Do vậy, thu NSNN ngày càng được phát triển. Do đó, có thể hiểu thu NSNN như sau: “Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu ngân sách Nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau: “+ Thu NSNN phản ánh các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong qúa trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội. Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN tương ứng với phần giá trị GNP được tập trung vào tay Nhà nước, nó là những khoản thu nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và 6 phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. + Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia, kết quả lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ; + Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước; + Thu NSNN gắn liền với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập. Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN. Phân loại thu NSNN “Phân loại thu NSNN là sự sắp xếp các nguồn thu thành các nhóm theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu về nghiên cứu, phân tích kinh tế và quản lý ngân sách.
Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN.” Căn cứ theo nguồn hình thành “Thu NSNN bao gồm: - Thu từ thuế, phí và lệ phí do các tổ chức, cá nhân phải nộp theo quy định của pháp luật. - Thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước. Khoản thu này bao gồm các khoản mục thu chủ yếu sau: + Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cở sở kinh tế + Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các các cở sở kinh tế + Tiền thu hồi từ các hoạt động cho vay của Nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi) - Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. - Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài, từ các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Thu khác như thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản… 7 Ý nghĩa của cách thức phân loại này: Cách thức phân loại này có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN theo từng nguồn hình thành.” (Dương Đăng Chinh & Phạm Văn Khoan, 2007) Căn cứ vào nội dung kinh tế “Phân loại các khoản thu theo nội dung kinh tế là cần thiết để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế. Theo cách phân loại này có thể chia các khoản thu NSNN gồm 2 nhóm: + Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí với nhiều hình thức cụ thể do luật định; + Nhóm thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các khoản thu khác đã kể trên. Ý nghĩa của cách thức phân loại này: Cách thức phân loại này cho phép đánh giá sự phát triển của nền kinh tế và tính hiệu quả của nền kinh tế.” (Dương Đăng Chinh & Phạm Văn Khoan, 2007) Căn cứ theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN “Theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN, có thể chia các khoản thu NSNN thành: + Thu trong cân đối NSNN: bao gồm các khoản thu thường xuyên và thu không thường xuyên; + Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, vay từ nước ngoài. Ý nghĩa của cách thức phân loại này: Cách thức phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN.” (Vũ Thị Hậu & Vũ Thị Loan, 2016) Căn cứ vào tính chất kinh tế của các nguồn thu “+ Thu từ thuế và các khoản mang tính chất thuế (như phí, lệ phí) còn gọi là thu từ thuế, phí, lệ phí; + Các khoản thu không mang tính chất thuế, còn gọi là thu ngoài thuế.
8 Căn cứ vào đặc điểm của hình thức động viên Bao gồm: + Thu dưới hình thức nghĩa vụ: thuế, phí, lệ phí; + Thu dưới hình thức đóng góp tự nguyện như thu xổ số, tiền quyên góp, tiền ủng hộ của dân chúng; + Thu dưới hình thức vay mượn trong và ngoài nước: công trái, tín phiếu. Quản lý thu Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm quản lý thu NSNN Quản lý Nhà nước là lĩnh vực quản lý đặc biệt, đó là loại quản lý mà chủ thể là hệ thống các cơ quan quyền lực Nhà nước hướng tới thực hiện mục tiêu nhất định nào đó vì sự phát triển chung của cộng đồng. Theo Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan (2007): “Quản lý thu NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thu ngân sách hướng đến việc tăng thu ngân sách quốc gia một cách hợp lý, đáp ứng nhu cầu chi tiêu công của nhà nước.” “Quản lý thu Ngân sách Nhà nước là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN, đảm bảo tính công bằng khuyến khích SXKD phát triển”.
“Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách. Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện.” (Lê Văn Ái & Bùi Tiến Hanh, 2016) “Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng nhất. Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN hàng năm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống KT-XH và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính.
Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: 9 Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập DN, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất.” (Vũ Thị Hậu & Vũ Thị Loan, 2016) Tóm lại, quản lý thu ngân sách nhà nước là quá trình tác động của chủ thể quản lý ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động thu ngân sách nhà nước nhằm đạt được mục tiêu đã định. Đặc điểm quản lý thu Ngân sách Nhà nước “Thứ nhất, quản lý thu NSNN được xác lập dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Điều này được thể hiện rõ từ khâu lập kế hoạch thu đến khâu tổ chức thực hiện kế hoạch thu và quá trình kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thực hiện kế hoạch thu. Tất cả các khâu này đều được thực hiện dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành.
Công tác quản lý thu NSNN sẽ mất phương hướng và dẫn đến hậu quả tiêu cực nếu không tuân thủ theo hệ thống những quy định này. Thứ hai, quản lý thu NSNN là sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các khâu công việc, giữa các cơ cơ quan, bộ phận liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thu nộp đối với NSNN. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của quản lý thu NSNN. Trách nhiệm quản lý thu NSNN không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý thu mà còn là trách nhiệm chung của cả bộ máy nhà nước.