Luận văn Thạc sĩ: quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật

Nghiên cứu đặc điểm hệ thực vật rừng phòng hộ Việt Hồng, Trấn Yên, Yên Bái. Luận văn thạc sĩ tập trung quản lý tài nguyên rừng bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đặc điểm hệ thực vật tại rừng phòng hộ Việt Hồng

Khu rừng phòng hộ xã Việt Hồng, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sở hữu một hệ sinh thái vô cùng đặc sắc. Đây không chỉ là nơi lưu giữ các giá trị lịch sử của Chiến khu Vần mà còn là kho tàng đa dạng sinh học quý giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phong phú vượt trội về thành phần loài thực vật với hàng trăm loài bậc cao có mạch. Hệ thực vật tại đây đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì môi trường sinh thái địa phương. Đặc điểm địa hình đồi núi dốc tạo nên những tiểu vùng sinh thái biệt lập. Những điều kiện này thúc đẩy sự phát triển của các tổ hợp loài đặc hữu. Việc nghiên cứu hệ thực vật tại đây mang lại cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn. Tài liệu nghiên cứu đã ghi nhận sự hiện diện của 293 loài thực vật khác nhau. Chúng thuộc 221 chi và 93 họ thực vật bậc cao. Sự phân bố này phản ánh tính đa dạng và ổn định của hệ sinh thái rừng kín thường xanh tại khu vực. Quản lý tốt nguồn tài nguyên này là chìa khóa để bảo vệ lưu vực và chống xói mòn đất hiệu quả.

1.1. Đa dạng sinh học và giá trị lịch sử tại xã Việt Hồng

Xã Việt Hồng nổi tiếng với di tích lịch sử Chiến khu Vần. Khu vực này có hệ sinh thái rừng kín thường xanh độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Diện tích rừng tự nhiên tuy không còn quá lớn nhưng giữ vai trò sinh tồn cho cộng đồng. Rừng tại đây bảo vệ môi trường và duy trì nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp. Sự kết hợp giữa giá trị lịch sử và đa dạng sinh học tạo nên sức hút đặc biệt cho khu vực nghiên cứu.

1.2. Hệ sinh thái rừng kín thường xanh đặc trưng vùng Yên Bái

Khu vực nghiên cứu điển hình cho kiểu rừng thường xanh á nhiệt đới núi thấp. Thảm thực vật Yên Bái tại đây được chia thành nhiều trạng thái rừng khác nhau. Từ rừng gỗ trung bình đến rừng phục hồi và rừng tre nứa. Mỗi trạng thái rừng lại có một cấu trúc rừng phòng hộ riêng biệt. Sự đan xen giữa các tầng cây tạo nên một hệ thống bảo vệ đất và nước vô cùng kiên cố. Đây là đặc điểm lâm học quan trọng cần được lưu tâm.

II. Thách thức trong quản lý tài nguyên rừng tại huyện Trấn Yên

Hiện nay, thảm thực vật Yên Bái tại xã Việt Hồng đang đối mặt với nhiều áp lực lớn. Sự gia tăng dân số và nhu cầu sử dụng lâm sản của người dân địa phương gây sức ép trực tiếp lên rừng. Tình trạng khai thác trái phép làm suy giảm trữ lượng rừng một cách đáng kể. Các hoạt động chăn thả gia súc và lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy vẫn còn tồn tại. Điều này khiến tái sinh tự nhiên gặp nhiều khó khăn. Cấu trúc rừng bị phá vỡ dẫn đến nguy cơ xói mòn và lũ quét tăng cao. Việc thiếu hụt nguồn lực trong tuần tra và giám sát cũng là một trở ngại lớn. Nhận thức của một bộ phận người dân về quản lý rừng bền vững còn hạn chế. Họ thường ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn hơn là bảo vệ môi trường. Các loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tận diệt nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Những thách thức này đòi hỏi một chiến lược quản lý toàn diện và quyết liệt hơn từ chính quyền địa phương.

2.1. Tác động tiêu cực đến thảm thực vật Yên Bái hiện nay

Hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép diễn ra phức tạp. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang canh tác nông nghiệp làm thu hẹp diện tích tự nhiên. Cháy rừng vào mùa khô cũng là một mối đe dọa thường trực. Những tác động này làm biến đổi thành phần loài thực vật và làm nghèo nàn đa dạng sinh học. Sự xâm nhập của các loài ngoại lai cũng gây ảnh hưởng đến sự cân bằng của hệ sinh thái bản địa.

2.2. Suy giảm trữ lượng rừng do áp lực từ cộng đồng địa phương

Áp lực từ nhu cầu củi đốt và vật liệu xây dựng khiến trữ lượng rừng giảm dần. Các cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao thường bị nhắm tới đầu tiên. Khi tầng cây cao bị mất đi, ánh sáng lọt xuống quá nhiều làm thay đổi môi trường dưới tán. Điều này ảnh hưởng xấu đến các loài cây ưa bóng và cây dược liệu. Nếu không kiểm soát tốt, khả năng cung cấp lâm sản bền vững của rừng sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân loại thực vật

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra tuyến kết hợp với thiết lập ô tiêu chuẩn. Đây là cách tiếp cận phổ biến trong lâm sinh học để đánh giá hiện trạng rừng. Các tuyến điều tra được thiết lập đi qua nhiều dạng địa hình khác nhau. Tổng cộng có 9 tuyến điều tra chính đã được thực hiện tại xã Việt Hồng. Trên mỗi tuyến, các chuyên gia tiến hành thu mẫu và mô tả đặc điểm lâm học của từng loài. Việc phân loại thực vật dựa trên phương pháp hình thái so sánh truyền thống. Các tài liệu chuyên khảo uy tín như Thực vật chí Việt Nam được sử dụng làm đối chiếu. Nghiên cứu cũng áp dụng các công thức toán sinh học để xử lý số liệu. Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener được tính toán để định lượng mức độ phong phú của hệ thống. Mật độ cây tái sinh và mật độ cây tiêu chuẩn cũng được thống kê chi tiết. Những phương pháp này đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cao cho kết quả luận văn. Đây là nền tảng vững chắc để đưa ra các đề xuất bảo tồn thực tiễn.

3.1. Quy trình điều tra tuyến và mật độ cây tiêu chuẩn

Các tuyến điều tra được vạch ra trên bản đồ trước khi ra thực địa. Chuyên gia đi dọc theo tuyến, thu thập mẫu vật từ lá, hoa đến quả. Mật độ cây tiêu chuẩn được đo đếm trong các ô mẫu định sẵn. Thông số về đường kính (D1.3) và chiều cao (H) được ghi chép cẩn thận. Việc này giúp xác định cấu trúc tầng tán và khả năng sinh trưởng của quần thụ. Dữ liệu thực địa là minh chứng sống động nhất cho sức khỏe của hệ sinh thái.

3.2. Cách tính chỉ số đa dạng Shannon Wiener trong lâm sinh học

Chỉ số Shannon-Wiener giúp đánh giá tính ổn định của thành phần loài thực vật. Chỉ số này càng cao chứng tỏ hệ sinh thái càng đa dạng và bền vững. Trong lâm sinh học, việc tính toán chỉ số này cho phép so sánh giữa các trạng thái rừng khác nhau. Nó giúp xác định những khu vực ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt. Phân tích định lượng này loại bỏ những đánh giá cảm tính, mang lại cái nhìn khoa học chính xác về tài nguyên rừng.

IV. Phân tích thành phần loài thực vật và cấu trúc rừng phòng hộ

Hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu cho thấy sự thống trị của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Ngành này chiếm tới 89,08% tổng số loài đã phát hiện. Trong đó, lớp Ngọc lan có số lượng loài vượt trội so với lớp Loa kèn. Cấu trúc rừng phòng hộ tại Việt Hồng rất phức tạp với nhiều tầng tán đan xen. Tầng cây gỗ chính thường bao gồm các loài như Giẻ, Táu, Sâng và Trám. Những loài này tạo nên bộ khung vững chắc cho rừng. Dưới tán là tầng cây bụi và thảm tươi phong phú về phân loại thực vật. Nghiên cứu đã xác định được các họ giàu loài nhất như Rubiaceae, Annonaceae và Fabaceae. Sự hiện diện của các họ này khẳng định tính chất nhiệt đới điển hình của khu hệ. Tổ hợp loài tại đây có sự phân hóa rõ rệt theo độ cao và điều kiện lập địa. Trạng thái rừng gỗ trung bình (IIIa2) có trữ lượng cao nhất, đạt gần 200 m3/ha. Sự ổn định của cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn. Việc duy trì cấu trúc này là mục tiêu hàng đầu của công tác lâm nghiệp tại địa phương.

4.1. Đặc điểm phân loại thực vật bậc cao có mạch tại khu vực

Kết quả giám định 622 mẫu vật đã xác lập danh lục 293 loài. Sự đa dạng thể hiện ở sự hiện diện của 3 ngành thực vật chính: Thông đất, Dương xỉ và Ngọc lan. Ngành Ngọc lan đóng vai trò chủ đạo về mặt số lượng và sinh khối. Việc phân loại thực vật chi tiết giúp nhận diện các loài đặc hữu và quý hiếm. Danh lục này là tài liệu cơ bản cho mọi hoạt động nghiên cứu và quản lý sau này tại huyện Trấn Yên.

4.2. Đánh giá tổ hợp loài và phổ dạng sống của hệ thực vật

Phổ dạng sống của hệ thực vật Việt Hồng chủ yếu là nhóm cây chồi trên (Ph). Nhóm này chiếm tỷ lệ áp đảo, phản ánh điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm thuận lợi. Các tổ hợp loài cây gỗ lớn tạo nên tán rừng kín khít, bảo vệ các loài cây thân thảo phía dưới. Sự đa dạng về dạng sống giúp hệ sinh thái tận dụng tối đa nguồn tài nguyên ánh sáng và dinh dưỡng. Đây là một đặc điểm sinh thái quan trọng giúp rừng tự phục hồi sau các tác động nhẹ.

V. Bí quyết bảo tồn giá trị sinh học và các loài cây quý hiếm

Công tác bảo tồn tại xã Việt Hồng cần tập trung vào các loài có giá trị bảo tồn cao. Nghiên cứu đã phát hiện 15 loài thực vật nguy cấp nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh mục IUCN. Các loài như Sao hải nam, Vàng tâm, Chò nâu cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Việc xây dựng các khu vực bảo tồn nguồn gen tại chỗ là vô cùng cấp thiết. Bên cạnh đó, tiềm năng từ lâm sản ngoài gỗ cũng rất lớn. Hệ thực vật tại đây có tới 168 loài cây có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Khai thác bền vững nguồn dược liệu này có thể giúp người dân thoát nghèo. Điều này tạo động lực để cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Quản lý rừng bền vững phải đi đôi với việc cải thiện sinh kế cho người dân. Các chương trình giao khoán bảo vệ rừng cần được triển khai hiệu quả hơn. Việc gắn kết giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái lịch sử là một hướng đi triển vọng. Bảo vệ rừng không chỉ là bảo vệ cây xanh mà là bảo vệ tương lai của cả cộng đồng.

5.1. Danh lục các loài thực vật có giá trị bảo tồn cao

Các loài như Lan cánh thuyền, Trắc dây hay Sâm cau đang bị đe dọa bởi nạn khai thác quá mức. Những loài này có giá trị bảo tồn cực kỳ lớn về mặt khoa học và kinh tế. Việc lập danh lục chi tiết giúp các cơ quan chức năng dễ dàng nhận diện và ngăn chặn các hành vi vi phạm. Bảo tồn các loài này không chỉ giữ gìn nguồn gen mà còn duy trì sự ổn định của cả hệ sinh thái.

5.2. Tiềm năng khai thác lâm sản ngoài gỗ và cây làm thuốc

Với hơn 57% số loài có công dụng làm thuốc, Việt Hồng là một kho dược liệu tự nhiên. Các loài như Lá khôi, Câu đằng, Thiên niên kiện có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Việc hướng dẫn người dân cách khai thác và trồng bổ sung các loài này dưới tán rừng là giải pháp hữu hiệu. Nó vừa giúp tăng thu nhập, vừa giảm áp lực khai thác gỗ, góp phần quản lý rừng bền vững.

VI. Hướng đi quản lý rừng bền vững tại xã Việt Hồng tương lai

Để thực hiện quản lý rừng bền vững, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và người dân. Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh cần được ưu tiên hàng đầu. Thúc đẩy tái sinh tự nhiên bằng cách khoanh nuôi và làm giàu rừng là phương pháp rẻ tiền nhưng hiệu quả. Cần hạn chế tối đa các tác động tiêu cực vào những khu vực rừng giàu. Việc ứng dụng công nghệ GPS và viễn thám trong giám sát rừng giúp phát hiện sớm các vụ phá rừng. Bên cạnh đó, các giải pháp xã hội cũng đóng vai trò quyết định. Nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua các buổi tuyên truyền về luật Lâm nghiệp. Xây dựng các hương ước, quy ước bảo vệ rừng tại từng thôn bản. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cần được thực hiện minh bạch để khích lệ người dân. Tương lai của thảm thực vật Yên Bái phụ thuộc vào những hành động cụ thể ngay từ hôm nay. Việt Hồng hoàn toàn có thể trở thành một hình mẫu về kết hợp giữa bảo tồn di tích và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

6.1. Giải pháp kỹ thuật nâng cao khả năng tái sinh tự nhiên

Tập trung vào việc phát dọn dây leo, cây bụi lấn át cây gỗ tái sinh. Việc này giúp cải thiện điều kiện ánh sáng và không gian sống cho các loài cây mục tiêu. Tái sinh tự nhiên là quá trình bền vững nhất để phục hồi trữ lượng rừng. Cần chú trọng bảo vệ những cây mẹ gieo giống tốt trong quần thụ. Các biện pháp lâm sinh đúng đắn sẽ giúp hệ sinh thái nhanh chóng đạt tới trạng thái đỉnh cực.

6.2. Tăng cường vai trò cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng

Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp gắn bó với rừng. Khi người dân thấy được lợi ích từ rừng, họ sẽ tự giác bảo vệ. Việc thành lập các tổ đội tuần tra rừng cộng đồng là một sáng kiến kinh nghiệm quý báu. Hỗ trợ vốn và kỹ thuật để người dân phát triển các mô hình nông lâm kết hợp. Đây là chìa khóa để đạt được các mục tiêu về quản lý rừng bền vững lâu dài.

12/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật.I cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500-2000 loài. Brummit (1992) chuyên gia của Phòng Bảo tàng thực vật hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là: Khuyết lá thông (Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chi và được chia ra hai lớp là: Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.

Takhtajan, Viện sỹ thực vật người Nga đã có những đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật. Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1977), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 458 họ, 10.500 chi; không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng 65. Lê Trần Chấn và cộng sự (1999), đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các vùng như sau, vùng hàn đới (đất mới, 208 loài), vùng ôn đới (Litva, 1.439 loài), cận nhiệt đới (Palextin, 2.334 loài), vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt 4 đới gió mùa (Philippin 8.099 loài, Bắc Việt Nam 5.

Trong phạm vi bắc bán cầu, tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm giần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo (từ gần 75% đến khoảng 40%). Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10%) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới. Sau khi học thuyết tiến hóa của S. Darwin ra đời các cơ sở lý luận của địa lý thực vật cũng được hình thành và phát triển.

Sau đó, trong nửa sau thế kỷ XIX có nhiều công trình nghiên cứu địa lý thực vật xuất hiện và phát triển theo các xu hướng chính, Đánh giá số lượng thực vật, phân vùng địa lý thực vật. Về xác định yếu tố địa lý của từng loài có các tác giả như, Aliochin (1961), Schmidthusen (1976), Pócs Tamás (1965), Takhtajan (1978), K. Tổng quan vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu.

của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indonesia- Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế). Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, rừng Việt Nam mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản nhất của rừng nhiết đới, nó có cấu trúc phức tạp, phong phú và đa dạng về loài.

Rừng nước ta chiếm ¾ diện tích đất đai toàn quốc, trong đó có nhiều gỗ và đặc sản quý hiếm, nhiều 5 dược liệu có giá trị phân bố hầu hết ở các vùng trung du và miền núi.Việc nghiên cứu về tài nguyên rừng Việt Nam đã được tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu. Một số danh y đã được biết đến nhờ việc nghiên cứu về thực vật và tìm ra những phương thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh, Hải thượng Lãn Ông,… Việc nghiên cứu thực vật theo hướng khoa học mới được biết đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam. Công trình thống kê mô tả thực vật như “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1899), ông đã tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX A.Chevalier (1919) đã có những nghiên cứu về các hệ sinh thái rừng Bắc Bộ.Maurand 1943, đã nghiên cứu “các kiểu quần thể” của ba vùng sinh thái Bắc Đông Dương.

Nam Đông Dương và vùng trung gian. Dương Hàm Y 1956, công bố nghiên cứu về “Tài nguyên rừng ở Việt Nam”. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như Loeschau 1960, Thái Văn Trừng 1970, 1978, Trần Ngũ Phương 1970, 2000,… đã nghiên cứu về rừng Bắc Bộ Việt Nam.Richards 1952, đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái, tác giả này đã mô tả một số đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ, rừng có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ), nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiêu thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.Baur 1962, nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó ông đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức xử lý lâm sinh bao gồm: mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng.

Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái 6 sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo không giải phóng lớp cây tái sinh có sẵn có ở trong trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc chăm sóc và nuôi dưỡng rừng sau đó. Cuối cùng tác giả đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa. Công trình Thực vật chí Đông Dương gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã được công bố từ năm 1907 – 1952 bởi nhà thực vật người Pháp H. Lecomte chủ biên.

Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho 7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dương. Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nước ta có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ. Thía Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%). Công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1963-1978), Trần Ngũ Phương về thảm thực vật rừng Việt Nam.

Các tác giả đã phân chia thảm thực vật rừng nước ta thành các kiểu rừng, kiểu phụ và các ưu hợp, quần hợp thực vật phổ biến. Trong tác phẩm “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” 1978, tác giả Thái Văn Trừng đã tiếp tục hoàn thiện quan điểm “Sinh thái phát sinh quần thể trong các kiểu thảm thực vật” rừng ở Việt Nam, mô tả - phân tích cấu trúc và đề xuất những định hướng nhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam. Aubréville chủ biên, đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam do 29 tập nhỏ gồm 74 họ thực vật có mạch. Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam.

7 Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999 – 2000) có bộ Cây cỏ Việt Nam tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam và bộ Thực vật chí Việt Nam. Hiện nay đã xuất bản được 11 tập. Đây là các tài liệu rất hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về tài nguyên thực vật Việt Nam.

Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc lên 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài.

Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật. Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10. Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam. Võ Văn Chi, 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam.

Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây cỏ có ích ở Việt Nam. Nguyễn Thiện Tịch (2001), Lan Việt Nam. Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam. Đỗ Tất Lợi, (1977) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.

Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật Pocs Tamas (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt 8 Nam có 5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ