CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Quản lý rừng bền vững Nỗ lực đầu tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941, là một chương trình của Trung tâm rừng hộ gia đình của Tổ chức Lâm nghiệp Hoa Kỳ, được cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi cư trú phù hợp thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân. ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và các tiêu chuẩn cho các chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu trở thành trang trại có rừng được chứng nhận.
Theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn này, các chủ sở hữu tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt của cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS năm năm một lần. ATFS đã công nhận 24 triệu mẫu Anh đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90473 chủ sở hữu rừng từ nhân, những người cam kết quản lý tốt rừng của mình, tại 46 bang. Tiếp đó là Hội đồng Quản trị rừng (FSC) được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ. Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích về mặt xã hội và có thể thực hiện được về mặt kinh tế.
FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những Nguyên tắc và Tiêu chí về Quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ. Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới. Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, n 5 Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD). Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki.
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội” Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”. Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal. FSC và ITTO đã có bộ tiêu chuẩn của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước. Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới”.
Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trước đây đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ, và ngày này đa được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng. Hiện nay có 18 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng. Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí. Các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội.
Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức chứng chỉ rừng) là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ, được thành lập năm 1999, hoạt n 6 động thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên thứ ba. PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác quản lý rừng bền vững. PEFC là chương trình quy mô toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tổ chức chứng chỉ rừng quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên tham gia. Chứng chỉ rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO, 1991) chứng chỉ là sự cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất định.
Chứng chỉ rừng (CCR) có 2 phần là chứng chỉ quản lý rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC). Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về CCR, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là a) đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định, và b) cấp giấy chứng chỉ có thời hạn. Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định. Nói cách khác , chứng chỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững.
Ba thành phần có vai trò trong việc chứng chỉ rừng: 1. Người chứng chỉ: là một tổ chức thứ ba, trung gian, hoàn toàn độc lập 2. Người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ rừng như chính phủ, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư, các tổ chức môi trường, xã hội v. gọi chung là các bên liên quan.
Người được chứng chỉ, gồm các lâm trường, công ty hay doanh nghiệp lâm nghiệp, chủ rừng cộng đồng hoặc cá thể. Một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là thâm nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ, vì vậy chứng chỉ rừng thường gắn với chứng chỉ chuỗi hành trình - xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ. Chủ rừng được chứng chỉ theo quy trình nào thì được cấp giấy chứng chỉ và các sản phẩm làm ra được mang nhãn mác của quy trình đó. Hiện nay trên thế giới có 2 quy trình CCR quốc tế lớn là Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Chương n 7 trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC), chiếm trên 60% diện tích rừng được chứng chỉ của thế giới.
1) Tại sao cần chứng chỉ rừng? Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của người dân. Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền vững. Như vậy, có thể nói quản lý rừng bền vững là mục tiêu, còn chứng chỉ rừng chỉ là một trong những công cụ hay biện pháp chủ yếu để đạt mục tiêu đó. Chứng chỉ rừng là cần thiết vì: - Cộng đồng quốc tế, chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi trường, xã hội v.v đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ đã được quản lý bền vững.
- Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững. - Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc biệt là gỗ, được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững. Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận QLRBV của chủ rừng, cũng như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp. Có thể ví thực hiện QLRBV như một quá trình “học”, còn chứng chỉ rừng như một kỳ thi, chủ rừng được cấp chứng chỉ tức là đã “thi đỗ” bằng QLRBV.
Ngay từ thập kỷ 1990 ITTO đã đề ra mục tiêu đến năm 2000 tất cả các sản phẩm rừng của nhóm các nước sản xuất thành viên phải có nguồn gốc từ rừng được quản lý bền vững. Năm 1998 Liên kết WB -WWF đề ra mục tiêu đến năm 2005 toàn thế giới có 200 triệu ha rừng, gồm 100 triệu ha rừng nhiệt đới và 100 triệu ha rừng ôn đới, được chứng chỉ. Tính đến nay, diện tích rừng được chứng chỉ bởi các quy trình chủ yếu trên toàn thế giới là 341,95 triệu ha. Như vậy là tổng số diện tích rừng được chứng chỉ đã vượt chỉ tiêu của Liên kết WB -WWF, nhưng diện tích rừng nhiệt đới được chứng chỉ còn rất nhỏ bé, còn rất xa so với mục tiêu.
n 8 2) Chứng chỉ rừng bổ sung cho chính sách lâm nghiệp Quản lý rừng thường chịu các tác động của: - Luật pháp và chính sách về lâm nghiệp thông qua các quyết định, nghị định, thông tư, chỉ thị, hướng dẫn v. của nhà nước và các hiệp định, công ước quốc tế, gọi chung là những công cụ cứng. - Cơ chế thị trường, các hình thức khuyến khích vật chất, tuyên truyền vận động, khen thưởng v., gọi chung là những công cụ mềm. Chứng chỉ rừng, bao gồm cả gắn nhãn sản phẩm, dựa vào động lực thị trường là một công cụ mềm có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý rừng.