Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong quá trình nhận thức của loài người cho thấy, việc truyền thụ kinh nghiệm và đào tạo thì sử dụng phương tiện dạy học (PTDH) có tác dụng đặc biệt quan trọng. Vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu, quản lý (QL) và sử dụng PTDH trong nhà trường có cơ sở triết học sâu xa và được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, trong đó phải kể đến nhà sư phạm lỗi lạc của thế giới người Tiệp Khắc Komensky (1592-1679) được công nhận là “ông tổ của nền giáo dục (GD) cận đại”. Komensky chịu ảnh hưởng lớn quan điểm triết học của BêCơn ( nhà duy vật người Anh thế kỷ XVII ) cho rằng: “Cảm giác là nguồn gốc của kiến thức”. Từ thực tiễn đó, việc dạy học được bắt đầu từ việc quan sát sự vật hiện tượng đã đem đến hiệu quả rất lớn trong quá trình dạy học (QTDH), Komensky đã thiết lập nên nguyên tắc dạy học trực quan, ông đã xem đây là nguyên tắc vàng “lời nói không bao giờ đi trước sự vật”.
Về sau đã có nhiều nhà nghiên cứu GD như: J.Pestalossi ( 1746-1827) người Thụy Sỹ, V.ĐUsinski ( 1824-1870) đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Trong trường học, PTDH được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nhằm cung cấp vốn tri thức mà loài người tích lũy được cho người học, đồng thời kích thích khả năng sáng tạo, ứng dụng vào cuộc sống của người học. Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề về PTDH như: Tác giả Tô Xuân Giáp, trong cuốn “ Phương tiện dạy học, hướng dẫn chế tạo và sử dụng”[21], đã đưa ra những cơ sở phân tích và phân loại PTDH, 7 cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng PTDH và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả PTDH: “ Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) lên rất nhiều”. Tác giả Trần Quốc Đắc chủ biên “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất (CSVC) và thiết bị dạy học (TBDH) ở trường phổ thông Việt Nam”[20]; đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng thiết bị dạy học, xác định vị trí, vai trò của CSVC và TBDH trong nhà trường.
Tác giả Bùi Minh Hiền chủ biên cuốn “ Quản lý giáo dục”[23] ; “ Phương tiện dạy học trong đào tạo nghề - Một số vấn đề cơ bản” của thạc sĩ Nguyễn Quang Việt. Nguyễn Sĩ Đức chủ biên cuốn “ Những vấn đề cơ bản về công tác thiết bị dạy học Lắp đặt, sử dụng, bảo quản, các thiết bị dùng chung ( Quyển 1)[19].s Nguyễn Minh Trung “ Bài giảng về phương tiện dạy học”[32]. Ngoài ra, một số tác giả đã có các đề tài như: Nguyễn Phục ( 2014),” Biện pháp quản lý PTDH của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Trường ĐHSP Huế. Mai Thị Hương ( 2016), “ Biện pháp quản lý hoàn thiện PTDH theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay ở các trường THCS thị xã Buôn Hồ- ĐắkLăk, luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Quy Nhơn.
Qua nghiên cứu của một số tác giả, họ đã đưa ra được những cơ sở lý luận về việc quản lý hoàn thiện đối với việc trang bị, sử dụng và bảo quản 8 phương tiện dạy học ở trường Trung học cơ sở, đồng thời đã khảo sát làm rõ được những thực trạng về vấn đề khai thác, sử dụng và bảo quản các phương tiện, thiết bị dạy học kỹ thuật ở trường đã chưa phát huy hết chức năng, chưa đem lại hiệu quả cao,. Tuy nhiên, qua tìm hiểu tra cứu và nghiên cứu trên nhiều phương tiện thì vấn đề nghiên cứu về quản lý PTDH ở các trường tiểu học (TH) cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu về quản lý PTDH chỉ tập trung vào một hoặc hai nội dung quản lý PTDH. Chính vì thế, vấn đề quản lý PTDH thiếu tính toàn diện. Khi xem xét cụ thể thì một số biện pháp quản lý PTDH còn chung chung, chưa đi vào chiều sâu nhất là trong việc phối hợp đồng bộ các biện pháp, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa PTDH với mục đích, nội dung và phương pháp dạy học.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mà khoa học và công nghệ trên thế giới rất phát triển, kinh tế nước ta phát triển nhanh và mạnh, ngành GD đang được Đảng và Nhà nước chăm lo, đầu tư. Trong những năm tiếp theo, nền giáo dục nước ta đang thực hiện đổi mới như Chương trình giáo dục phổ thông 2018 bắt đầu thực hiện từ năm học 2020-2021. Chính vì thế, việc quản lý PTDH trong nhà trường tiểu học hiện nay còn nhiều vấn đề mới đặt ra. Theo mục tiêu đổi mới giáo dục nước ta hiện nay là “Đổi mới về chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục…góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực…” [4, tr.1], nên vấn đề để đạt được mục tiêu, nội dung và đáp ứng với phương pháp dạy học thì phải luôn gắn liền với các loại phương tiện dạy học.
Chính vì thế, phương tiện dạy học có vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học, vậy các giải pháp đặt ra đòi hỏi người quản lý nhà trường phải có cách quản lý về việc trang bị, sử dụng, bảo quản và kiểm tra về PTDH một cách 9 toàn diện về nội dung quản lý và đồng bộ về các giải pháp quản lý. Vì vậy, qua đề tài này chúng tôi mong rằng sẽ giúp cho Hiệu trưởng các trường tiểu học phối hợp được các biện pháp quản lý toàn diện và có chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý PTDH theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay tại các trường tiểu học ở thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm về quản lý, quản lý nhà trường và quản lý giáo dục 1.
Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa QL từ các góc độ khác nhau: Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.24] Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu” [31, tr.2] Tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động” [17, tr.15] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [27, tr.24] 10 Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng chúng đều có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: Quản lý (QL) là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể QL nhằm tác động lên khách thể QL để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác QL. Có thể hiểu: QL là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà QL và phù hợp với các quy luật khách quan.
Đó là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng và khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quá trình tác động của chủ thể QL được miêu tả ở sơ đồ 1. Công cụ quản lý Chủ thể Khách thể và đối tượng Mục tiêu quản lý quản lý quản lý Phương pháp Quản lý Sơ đồ 1. Các yếu tố quản lý [23] Từ khái niệm và mô hình QL trên, ta thấy QL bao gồm 3 yếu tố: Chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL.
Ba yếu tố này luôn gắn bó hữu cơ với nhau. Chủ thể QL có thể là một hoặc nhiều người, khách thể QL có thể là cá nhân hoặc nhóm người, được biểu hiện với những dấu hiệu chủ yếu dưới đây: Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Hoạt động QL là những tác động có tính mục đích. Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm 11 thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm quản lý nhà trường * Khái niệm “nhà trường” Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò”. “Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”. Tác giả Nguyễn Sỹ Thư khẳng định: “Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội. Nhà trường không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần.
Mục tiêu cao nhất là hình thành “Nhân cách - Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn “vốn con người” (human capital), “vốn xã hội” (social capital)” [29, tr. 2] Ta thấy, trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức GD cơ sở của hệ thống GD quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, mọi hoạt động khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này.