phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hoạt động quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An 7 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa Văn hóa là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa là biểu hiện của trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Văn hóa là một phạm trù rất rộng lớn, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [38]. Nhƣ vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dƣới các góc độ khác nhau.
Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy: Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con ngƣời, xã hội loài ngƣời. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con ngƣời sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội. 8 e Theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc phát triển văn hóa đến năm 2020 cũng đã thể hiện rõ 8 lĩnh vực lớn của văn hóa bao gồm: Tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa; Di sản văn hóa; Văn học nghệ thuật; Thông tin đại chúng; Giao lƣu văn hóa với thế giới; Thể chế và thiết chế văn hóa; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ [46]. Đây đều là những lĩnh vực cơ bản và quan trọng của văn hóa, do đó, hoạt động QLNN về văn hóa cũng chú trọng vào những lĩnh vực nói trên.
Di sản Văn hóa Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998, khái niệm di sản đƣợc chú thích là tài sản của ngƣời chết để lại; cái của thời trƣớc để lại. Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên của Bửu kế - Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999 thì khái niệm Di sản đƣợc giải thích là: di là để lại, sản là của cải - của cải giá trị của ngƣời chết của ngƣời trƣớc để lại. Ví dụ: những giá trị quý báu của cha ông chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát triển. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam [32] và Luật Di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009[33], Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân ta.
Di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa phi vật thể cùng với di sản văn hóa vật thể là hai bộ phận hữu cơ cấu thành nên sự đa dạng của kho tàng văn hóa nhân loại. Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tƣơng hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhƣng vẫn có tính độc lập tƣơng đối. 9 e Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dƣới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài ngƣời, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại. Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ đƣợc lƣu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác.
Phần lớn di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể biểu hiện các mặt giá trị thông qua các cử chỉ, hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu các di sản. Di sản văn hóa vật thể - những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) đƣợc cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng trƣờng tồn mãi mãi cùng nhân loại. Chúng ta, chỉ có thể bằng các phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài tuổi thọ, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời). Đã là dạng vật chất thì tất yếu phải chịu tác động bởi quy luật tự hủy hoại của tự nhiên.
Di sản văn hóa phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản. Trong những trƣờng hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cƣ dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể. Và chính họ là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần đƣợc bảo tồn, phƣơng cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu hƣởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Theo Công ƣớc về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO: “Di sản văn hóa phi vật thể" đƣợc hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm ngƣời 10 e và trong một số trƣờng hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
Đƣợc chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể đƣợc các cộng đồng và các nhóm ngƣời không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trƣờng và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con ngƣời. Vì những mục đích của Công ƣớc này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con ngƣời, cũng nhƣ những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm ngƣời và cá nhân, và về phát triển bền vững [4]. “ Di sản văn hóa phi vật thể” nhƣ định nghĩa ở trên, ngoài các lĩnh vực khác, đƣợc thể hiện ở những hình thức sau: a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phƣơng tiện của di sản văn hóa phi vật thể; b) nghệ thuật trình diễn; c) tập quán xã hội, tín ngƣỡng và các lễ hội; d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; e) nghề thủ công truyền thống. Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 quy định: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng đƣợc tái tạo và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
Quản lý nhà nước QLNN là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học hành chính. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhƣng tựu chung lại đều nhằm mục đích đƣa ra các luận chứng, lý luận cần thiết để xây dựng phƣơng hƣớng cải tiến, cải cách nền hành chính nhà nƣớc làm cho hoạt động của bộ máy nhà nƣớc càng có hiệu lực, hiệu quả hơn. Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng: “QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nƣớc (công quyền) để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo đúng mục tiêu đã định” [42]. “QLNN là hoạt động của nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nƣớc” [14].
QLNN là thuật ngữ chỉ “ Sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nƣớc, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tƣợng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nƣớc trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nƣớc” [52]. Nhƣ vậy, có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. 12 e Mặc dù có nhiều cách tiếp cận về thuật ngữ QLNN nhƣng thực chất về nội dung, chúng đều có những điểm giống nhau, có những điểm cơ bản phản ánh bản chất của quản lý nhà nƣớc nhƣ sau: Chủ thể của QLNN bao gồm: Nhà nƣớc, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức và cá nhân đƣợc nhà nƣớc ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nƣớc.