Chương 1. Cơ sở lý luận về QLNN đối với ĐTN cho LĐNT. Thực trạng QLNN đối với ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Định hƣớng và giải pháp QLNN đối với ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.Nông thôn và lao động nông thôn 1. Khái niệm nông thôn Nông thôn là vùng khác với thành thị ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cƣ thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển, có trình độ tiếp cận thị trƣờng và sản xuất hàng hóa thấp hơn. Đặc điểm nông thôn: Nông thôn nƣớc ta chiếm khoảng 70% dân số cả nƣớc.
Đây thực sự là một lực lƣợng lao động bị chi phối lớn trong ngành sản xuất vật chất. Nói đến nông thôn là nói đến nông dân, những ngƣời hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Nhƣ vậy nông dân là tầng lớp đông đảo nhất sinh sống và làm việc ở nông thôn. Nông dân Việt Nam cũng nhƣ nông dân trên thế giới là lực lƣợng sản xuất trực tiếp ra lƣơng thực, thực phẩm cho nhân loại, nhƣng lại là những ngƣời rơi vào tình trạng thiếu đói.
Xuất phát từ đặc điểm nông thôn nƣớc ta trải dài khắp lãnh thổ, địa lý và điều kiện tự nhiên khác nhau mà sự phân bố dân cƣ và mật độ dân cƣ khác nhau. Việc dân cƣ phân tán, phân bố không đồng đều là những trở ngại trong phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân. Nhƣ vậy những đặc điểm khác nhau về địa lý, địa hình, về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội mà nông thôn, nông dân nƣớc ta có những nét đặc trƣng riêng trong phát triển kinh tế xã hội. Khái niệm lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngƣời để tạo ra của cải 10 vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lƣợng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nƣớc. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Lực lƣợng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi và có khả năng lao động đƣợc pháp luật quy định, thực tế đang làm việc và những ngƣời thất nghiệp. Theo khái niệm của Liên hợp quốc: Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lƣợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngƣời vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhƣng suy cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con ngƣời, phân biệt con ngƣời với con vật; xã hội loài ngƣời và xã hội loài vật.
Vì vậy, khác với con vật, lao động của con ngƣời là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con ngƣời.Mác “Lao động trƣớc hết là một quá trình diễn ra giữa con ngƣời và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con ngƣời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2, tr.Ăng ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là nhƣ vậy, khi đi đối với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhƣng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài ngƣời, và nhƣ thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài ngƣời” [2, tr. Nhƣ vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý nghĩa của con ngƣời, trong quá trình lao động con ngƣời vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tƣợng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình.
Nói 11 cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội. Thực tế trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nƣớc trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ớ nƣớc ta, theo bộ Luật lao động, độ tuổi lao động đƣợc quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 62 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 60 tuổi. Tuy là trong độ tuổi lao động, nhƣng vì nguồn LĐNT là toàn thể những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động ở nông thôn nên chỉ tính những ngƣời có khả năng tham gia lao động.
Việc xác định lực lƣợng lao động đƣợc thực hiện thông qua tổng điều tra dân số hoặc điều tra thực trạng lao động và việc làm hàng năm. Lao động nông thôn LĐNT bao gồm toàn bộ những ngƣời lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng lao động nhƣng chƣa tham gia hoạt động trong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn. LĐNT là những ngƣời dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên đang sống ở nông thôn, đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực nhƣ: nông, lâm, ngƣ nghiệp công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác; những ngƣời trong độ tuổi có khả năng lao động nhƣng hiện tại chƣa tham gia hoạt động kinh tế. Trong đó bao gồm những ngƣời đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt đƣợc một cách tốt nhất.
LĐNT đƣợc học nghề trình độ sơ cấp có độ tuổi từ 15 tuổi đến 62 tuổi (đối với nam), 60 tuổi (đối với nữ), có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học, bao gồm: Ngƣời lao động có hộ khẩu thƣờng trú tại xã; Ngƣời lao động có hộ khẩu thƣờng trú tại phƣờng, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi. 12 LĐNT có những đặc điểm cơ bản sau: - Đối tƣợng cho LĐNT có số lƣợng rất lớn. Xã hội loài ngƣời xuất hiện bắt đầu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, vì vậy đại đa số đều bắt đầu từ làm nông nghiệp. Xã hội ngày càng phát triển ngành nghề mới ngày càng xuất hiện, bộ phận dân cƣ nông nghiệp dần chuyển sang các ngành nghề mới.
Quá trình này đẩy nhanh khi các nƣớc bƣớc vào công nghiệp hóa. - Đối tƣợng LĐNT rất đa dạng về độ tuổi, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và hoàn cảnh sống. Vì vậy, ĐTN cho LĐNT cần đƣợc triển khai dƣới nhiều hình thức thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của họ. - Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp.
Điều này ảnh hƣởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế. - Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng nhƣ trình độ tiếp cận thị trƣờng thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hƣởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. - LĐNT nƣớc ta còn mang nặng tƣ tƣởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thƣờng bảo thủ và thiếu năng động.
Đào tạo nghề và các hình thức đào tạo nghề 1. Đào tạo nghề Đào tạo đƣợc hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mồi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả. Đào tạo đƣợc thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đối hành vi và thái độ làm việc của con ngƣời, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, 13 để ngƣời học lĩnh hội và nắm vững các tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho ngƣời đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận đƣợc một công việc nhất định”.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp đƣợc giao. ĐTN là những hoạt động giúp cho ngƣời học có đƣợc các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định ngƣời học có thể đạt đƣợc một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015 định nghĩa: “ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Hay có thể hiểu ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Đó là quá trình truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành cho ngƣời học nghề để ngƣời học có đƣợc trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của thị trƣờng lao động. ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau: Dạy nghề là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.