Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE QUAN LÝ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là van đề thu hút sự quan tâm không chỉ bản thân các chủ doanh nghiệp mà cả các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nghiên cứu. Do vậy cho đến nay có rất nhiều các công trình công bố liên quan đến chủ đề nay. Có thé nêu một số công trình như: -TS.
Hà Văn Hội (2007), Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp; Nhà xuất bản Bưu điện Hà Nội; -Trần Kim Dung (2011), Quản trị nguôn nhân lực; Nhà xuất bản Tông hợp thành phố Hồ Chí Minh; - John M.Ivancenvich, Quan tri nguôn nhán lực - Võ Thị Phương Oanh dịch (2010), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Các tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những lý thuyết về quản trị nhân lực - bao gồm từ bước hình thành nguồn nhân lực, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực trong một tô chức, doanh nghiệp. Đây là những quan điểm mamg tính tổng hợp cho quản lý, phát triển nguồn nhân lực nói chung - PGS. Hoàng Văn Hải “ Nang cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh té quốc tế - Tiến cận góc độ vi mô” (Tạp chí Quản lý kinh tế số 2/2005). Công trình này xem xét năng lực cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau như: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh về công nghệ, tài chính, nhân lực và nêu lên tính cấp thiết của việc dao tạo bổ xung nhân lực cho doanh nghiệp mới đáp ứng đươc yêu cầu cạnh trạng trong tình hình mới.
- Đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản ly nhân lực tại Cong ty Điện Lực Thai Binh trong điều kiện tdi cơ cấu ngành điện Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thủy thực hiện năm 2010. Đề tài đã phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, có cơ sở khoa học thực trạng nguồn nhân lực của Công ty Điện Lực Thái Bình, đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhân lực cho phù hợp với hệ thống quản lý của các Công ty phân phối điện cấp tỉnh. Chuẩn bị cho việc tái cơ cau tô chức theo mô hình mới, đáp ứng nhiệm vụ mà ngành điện sẽ giao trong giai đoạn tiếp theo. - Dinh Văn Toàn, Tap chí điện lực, tháng 9/2009 “Phat triển nguồn nhân lực của EVN đến năm 2015: can giải pháp dong bộ”.
Hai dé tài trên đề cập nguồn nhân lực của EVN ( nhưng quá tổng quát) và tình hình tô chức nhân sự, phát triển nhân lực của Công ty Điện Lực Thái Bình. Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài như: - Nguyễn Văn Quân (2013), Mét số giải pháp thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại Công ty TNHH Linh kiện Điện tử SANYO OPT Việt nam, Luan văn thạc sỹ Khoa học Quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; - Vũ Văn Duan (2013), Quản lý nhân lực tại Công ty TNHH Tran Trung, Thạc sỹ Khoa học Quản lý, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Các luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận về quản lý nhân lực của doanh nghiệp, kinh nghiệm trong nước và quốc tế về quả quản lý nhân lực trong doanh nghiệp; đánh giá thực trạng quản lý nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam trong và đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao năng lực quản trị nguồn nhân lực các doanh nghiệp Việt Nam. Nhìn chung các công trình nêu trên đã đề cập khá toàn diện những vấn đề từ lý luận đến thực tiễn về nhân lực và quản lý nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp, các ngành kinh tế và các giải pháp hoàn thiện, tăng cường quản trị nhân lực trong doanh nghiệp; tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể tình hình nhân lực và quản trị nhân lực đang đặt ra tại Công ty LDCT trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cần những giải pháp gì để tăng cường quản lý nhân lực cho công ty đáp ứng yêu cầu giai đoạn phát triển mới? - đây là vấn đề thực tiện đặt đối với công ty mà luận văn cần nghiên cứu. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp 1.Khải niệm nhân lực, quản lý nhân lực và mục tiêu, tiêu chi đánh gia quan lý nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm về nhân lực Về cơ bản, nhân lực của một quốc gia hay của một ngành là tổng thể những tiềm năng lao động của con người có trong một thời kỳ nhất định phù hop với kế hoạch và chiến lược phát triển (có thé tinh cho 1 năm, 5 năm, 10 năm). Tiềm năng đó bao ham tổng hòa tiềm năng về thé lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể đáp ứng một cơ cau lao động cho nền kinh tế - xã hội nhất định hay cho một tô chức nào đó. Nhân lực bao gồm tat cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kế cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức dé thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực cho phát triển như: tải nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người.
Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tải nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ kha năng khai thắc các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực: Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.
của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Tổ chức lao động quốc tế quan niệm: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm NNL được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển.
Ở nước ta khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, san xuất xã hội, tức là toản bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tong thé các yếu tố về thé lực, trí lực của họ được huy động vảo quá trình lao động (theo quy định của Bộ Luật lao động Việt Nam hiện nay, nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi). Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định NNL hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp).
Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuôi lao động, người trong độ tuôi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thê phát triển bình thường. Trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và sức mạnh của NNL.
Theo Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân: “nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) có trong một thời kỳ nhất định (2004, trang 161). “Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động của xã hội và tổng thé những tiềm năng lao động của xã hội nhằm đáp ứng những yêu cau phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như việc tô chức, quản lý điều hành đất nước. Đó là tài nguyên quan trọng nhất và cơ bản nhất của mỗi quốc gia”. Từ phân tích các khái niệm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: NNL của tổ chức/ doanh nghiệp là tất cả người lao động làm việc trong tổ chức/ doanh nghiệp đó, bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thâm mỹ, giới tính, độ tuổi, trong hiện tại và tương lai của tô chức , dé lao động sản xuất va phát triển.
Khái niệm quản lý nhân lực trong doanh nghiệp - Nói đến ý nghĩa của hoạt động quản lý, C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực diếp hay lao động chung nào tiền hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng can đến một sự chỉ đạo dé điều hoà sự hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phat sinh từ sự vận động cua toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tau vĩ cam tự mình diéu khiển lấy minh, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. (Cac-Mac va Ph.Ăng Ghen toàn tập, tập 23,1993.