Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHÍNH SÁCH THUÊ DOI VỚI PHÁT TRIEN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VUA 1. Khái quát chung về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV. Nói đến DNNVV là nói đến một tập hợp các doanh nghiệp được phân loại dựa trên độ lớn hay quy mô của doanh nghiệp.
Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng và giới hạn của từng tiêu thức. Điểm khác biệt cơ bản trong khái nệm DNNVV giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức phân loại và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thé. Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước trong lựa chọn và giới hạn các tiêu thức phân loại DNNVV, song khái niệm chung nhất về DNNVV có thé được hiểu: DNNVV là những co sở SXKD có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những năm giới hạn nhất định tính theo tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Qua nghiên cứu các phân loại doanh nghiệp của nhiều nước trên thế giới có thé thấy một số tiêu thức hay được sử dụng trong phân loại gồm: vốn sản xuất, số lao động thường xuyên, doanh số, lợi nhuận, gia tri gia tăng.
Tiêu thức về vốn sản xuất va số lao động phan ánh quy mô sử dung các yếu tố đầu vào; tiêu thức doanh số, lợi nhuận và giá tri gia tăng phản ánh quy mô theo kết quả đầu ra. Như vậy, dé phân loại DNNVV có thé dùng các yếu tổ đầu vào hoặc các yêu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc kết hợp cả hai loại yếu tố đó. Mặt khác, độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vao trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp đối với DNNVV của mỗi nước. Chính vì thế, khái niệm DNNVV mang tinh tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển KTXH nhất định của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, trước tháng 6/1998 sử dụng 2 tiêu thức chủ yếu là lao động và vốn, song do không có quy định chính thức của Chính phủ nên việc lượng hoá các tiêu thức tuỳ thuộc quy định của từng cơ quan chức năng và không có sự thống nhất. Theo quy định tại công văn số 681/CP-KTN ngày 22/06/1998 của Chính phủ thì các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 ty VND và có số lao động dưới 200 thuộc DNNVV. Theo quy định tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, khái nệm DNNVV được hiểu như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập; đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình KTXH cu thé của nganh, cua dia phuong, trong qua trinh thuc hién cac bién pháp, chương trình trợ giúp có thé linh hoạt áp dụng đồng thời ca hai tiêu chi von va lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên.
Đến năm 2009, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, khái niệm DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tông nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong Bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tông nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Đối với ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành công nghiệp và xây dựng: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 trở xuống: doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ 10 đến 200 người; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng và số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Đối với ngành thương mại và dịch vụ: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 trở xuống; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ 10 đến 50 người; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tông nguồn vốn từ 10 đến 50 tỷ đồng và số lao động từ trên 50 người đến 100 người. Đặc trưng cia DNNVV Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn thấp, lao động ít và thường gắn với công nghệ thủ công, lạc hậu.
Đặc trưng cơ bản nhất của DNNVV là quy mô vốn SXKD nhỏ. Đặc trưng này quyết định những đặc trưng khác của DNNVV. Tắt cả các quốc gia trên thế giới dù phân chia DNNVV đều có đặc trưng này. Thứ hai, DNNVV có tính linh hoạt cao, dé thích ứng với các thay đổi của thị trường.Với ưu thế quy mô nhỏ, gọn, năng động, dễ quản lý, các DNNVV dễ cơ động, dễ thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường về khả năng thay đổi phương án SXKD, thay đổi mat hàng nhanh, phù hợp với xu hướng thay đổi tập quán tiêu dùng của dân cư.
Mặt khác, DNNVV thường xuyên có quan hệ mật thiết với người tiêu dùng, do đó có khả năng nắm bắt thường xuyên và khá chính xác nhu câu của người tiêu dùng. Thứ ba, ngành nghề kinh doanh chủ yếu tập trung ở những lĩnh vực đòi hỏi vốn ít, thời gian chu chuyên vốn nhanh như: thương mại, du lịch; công nghiệp chế biến; xây dựng; vận chuyền hàng hoá, hành khách,. Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt hơn, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược của DNNVV do tác động của những thay đổi này đến thị trường là không đáng kể. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Thứ nhát, DNNVV đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế và ôn định xã hội của mỗi nước.
Phát triển DNNVV góp phan quan trọng vao tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt đối với những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNNVV tạo ra thường chiếm tỷ trọng lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế. Ở các nước Châu Âu, DNNVV tạo ra khoảng 65% tổng doanh thu trong nên kinh tế; ở các nền kinh tế APEC, DNNVV đóng góp 35% tổng doanh số xuất khẩu (chiếm khoảng 12% GDP của APEC). DNNVV cũng đã và đang góp phần quan trọng vào thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
Thứ hai, DNNVV có vai trò quan trọng trong tạo công ăn việc làm, thất nghiệp, góp phan ồn định chính trị xã hội. Ở hầu hết các nước, lao động làm việc trong các DNNVV thường chiếm trên 60% tổng lao động cả nước. Ở các nước Châu Au, DNNVV thu hút khoảng 66% tổng lao động xã hội; ở các nền kinh tế APEC, DNNVV thu hút khoảng 80% tổng lao động xã hội. Thứ ba, DNNVV là lực lượng quan trọng đáp ứng nhu cau về hàng tiêu dùng cho xã hội, sản xuất các sản phâm công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và duy trì, phát huy ngành nghề truyền thống.
Các DNNVV lớn về số lượng và năng động trong SXKD nên đã tạo ra một khối lượng hàng hoá dịch vụ đáng kể, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng. Thứ tu, DNNVV tạo nguồn thu nhập 6n định và thường xuyên cho bộ phận lớn dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các bộ phận dân cư, giữa các vùng, các địa phương, đồng thời tạo ra sự phát triên tương đôi đông đêu giữa các vùng, miên trong mỗi quôc gia. Thứ năm, DNNVV góp phần quan trọng trong khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng còn tiềm ân trong xã hội. Với số lượng, phân bố rộng khắp các địa bàn nên DNNVV đặc biệt có lợi thế trong huy động và sử dụng các nguôn tải chính phân tán, nhỏ lẻ trong dân cư.
Thứ sáu, DNNVV góp phần hình thành và xây dựng đội ngũ các nha quan trị DN tài năng. Các nhà quan trị DNNVV luôn phải phan dau vươn lên dé khắc phục những hạn chế vốn có của DNNVV, kết quả của quá trình phan dau đó đã hình thành được đội ngũ những nhà quản trị DN tài năng. Thứ bảy, DNNVV góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh toàn diện, thúc đây SXKD hiệu quả hơn. Với sự tham gia đông đảo của DNNVV vào quá trình sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hoá trên thị trường, số lượng và chủng loại hang hoá tăng lên nhanh chong.Trong quá trình SXKD, các DNNVV một mặt phải cạnh tranh với nhau, đồng thời phải cạnh tranh với các DN lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng, chủng loại, mẫu mã và hiệu quả của nền kinh tế ngày càng được nâng cao.
Xuất phát từ tầm quan trọng của DNNVV trong tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế và góp phần ổn định chính trị xã hội,. nên Chính phủ các nước luôn quan tâm phát triển DNNVVở tất cả các ngành nghé, lĩnh vực và vùng, miền của mỗi nước. Chính sách thuế và vai trò đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm chính sách thuế Chính sách thuế là chính sách của Nhà nước về sử dụng các công cụ thuế bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và giải pháp về thuế của Nhà nước phủ hợp với đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ nhằm bồi dưỡng, khai thác, huy động và sử dụng các nguồn tài chính đa dạng 10 phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kê hoạch và chiên lược phát triên KTXH của quốc gia trong thời kỳ tương ứng.
Ở đây, nội hàm của chính sách thuế là chính sách về sử dụng các công cụ thuế, là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Nhà nước về sử dụng các công cụ thuế và bao gồm cả các giải pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Bản chất của chính sách thuế đó là chính sách sử dụng các công cụ luật thuế của Nhà nước dé phát triển, khai thác, động viên và sử dụng nguồn tài chính một cách có hiệu quả nhất định, hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Chính sách thuế có phạm vi rất rộng, bao gồm toàn bộ việc sử dụng các luật thuế như thuế GTGT, thuế TNDN, thuế XNK,. Nói cách khách, mỗi chính sách về sử dụng từng loại thuế khác nhau là một bộ phận hợp thành của chính sách thuế.