Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở thế giới Trong những năm gần đây, kiểm tra, đánh giá giáo dục được coi là khâu then chốt để nâng cao chất lượng dạy học, là kênh phẩn hồi của quá trình dạy học và là cơ sở để nâng cao chất lượng đổi mới giáo dục [10], [12]. Các công trình của McMillan (2001 và 2008) đã đóng góp nhiều về lí luận kiểm tra, đánh giá giáo dục, ý nghĩa, vai trò, các khái niệm cơ bản và khái niệm liên quan cũng như các hướng vận dụng kiểm tra, đánh giá hiệu quả trong thực tiễn giáo dục, thực tiễn hoạt động tổ chức lớp học [20], [28].
Công trình của Airasian (2005) nghiên cứu tương đối sâu sắc về kiểm tra, đánh giá lớp học và tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên và đặc biệt nhấn mạnh hệ thống khái niệm, các phạm trù liên quan và các lĩnh vực vận dụng kiểm tra, đánh giá giáo dục (như trong từng môn học, với các loại kiểm tra trắc nghiệm khách quan, quan sát, tự luận,. Nghiên cứu của tác giả Halpern (1994) nêu lên định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá như một trong những giải pháp nhằm thay đổi căn bản môi trường giáo dục trong điều kiện ngày càng phức tạp và đa dạng hóa, cũng như ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự linh hoạt của mô hình giáo dục, sự dân chủ tương đối giữa người dạy và người học,. Cuốn sách "Dạy và học tích cực" của Dự án Việt - Bỉ đưa một số phân loại như: kiểm tra, đánh giá định kì nhà trường theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng; kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp; kiểm tra, đánh giá chương trình, sách giáo khoa; kiểm tra, đánh giá giờ dạy của một giáo viên theo tiêu chí đã được ban hành.; Bên cạnh đó phân tích mối quan hệ giữa kiểm tra, đánh giá và các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Hai tác giả người Anh là Hall, C.
(2007), nghiên cứu về "Ảnh hưởng của KTNB trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân". Tại nghiên cứu này, các tác giả phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học. Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trường học, không những thế KTNB trường học được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân.
Cũng tại Mỹ các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu "Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học" (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc. Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như nâng cao hoạt động quản lý đối với mô hình KTNB trường học đã giúp cho việc quản lý Nhà trường một cách có hiệu quả.
Từ một số kết quả nghiên cứu trên đây có thể thấy, KTNB trường học được các nhà quản lý giáo dục ở nước ngoài rất coi trọng. Công tác KTNB trường học được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh và việc KTNB trường học được giáo viên cho rằng quan trọng hơn và có tác động nhiều hơn đến hoạt động của trường so với những cuộc kiểm tra từ bên ngoài (thanh tra). Đồng thời các nghiên cứu trên đây cũng cho thấy vai trò của Hiệu trưởng trong việc quyyết định, tổ chức KTNB trường học tại các nước này. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu xây dựng nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa non trẻ, Đảng, Bác Hồ, Nhà nước ta, đã xác định vị trí quan trọng của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn công tác thanh, kiểm tra, kiểm tra nội bộ.
Ngày 08 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra sắc lệnh số 16/SL thành lập cơ quan Thanh tra học vụ nhằm mục đích: “Kiểm soát việc học theo chương trình giáo dục của Chính phủ”. Để phù hợp với sự phát triển của đất nước và đổi mới trong giáo dục ngày 01 tháng 4 năm 1990, Hội đồng nhà nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Pháp lệnh Thanh tra đánh dấu bước ngoặt quan trọng về tổ chức và hoạt động của bộ máy Thanh tra Giáo dục và cũng từ đó thanh tra Giáo dục được tiếp tục củng cố và hoàn thiện và là bộ phận cấu thành của hệ thống Thanh tra nhà nước được tổ chức ở cấp Bộ và cấp Tỉnh. Ngày 28 tháng 9 năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 358/HĐBT về tổ chức hoạt động của Thanh tra Giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 478/QĐ ngày 11 tháng 3 năm 1993 về quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống Thanh tra Giáo dục, các vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy và phương thức hoạt động của Thanh tra Giáo dục.
Nhờ đó hoạt động của Thanh tra Giáo dục ngày càng được phát huy vai trò tích cực, góp phần chấn chỉnh mọi mặt công tác quản lý Giáo dục. Từ khi có Luật Giáo dục năm 1998 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 6 năm 1999 và Luật Giáo dục năm 2005 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2006 tại chương VII “Quản lý nhà nước về Giáo dục” gồm có bốn mục về Giáo dục trong đó có một mục về “Thanh tra Giáo dục” quy định một cách cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức và hoạt động của Thanh tra Giáo dục phù hợp với Luật Thanh tra năm 2004 là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp đổi mới quản lý Giáo dục nước ta. Về công tác thanh tra, kiểm tra trong giáo dục, các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, đặc biệt là về quản lý giáo dục (QLGD): tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về QLGD”, tác giả Đặng Quốc Bảo “Một số khái niệm về QLGD- ĐT", tác giả M.I Kôndacôp “Cơ sở lý luận khoa học QLGD”, tác giả Trần Kiểm “Khoa học QLGD - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Các công trình nghiên cứu trên cung cấp cơ sở lý luận để vận dụng vào thực tiễn công tác QLGD, quản lý các nhà trường [2], [25], [26].
Tác giả Lưu Xuân Mới (1998) đã nêu quan điểm: Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng giáo dục về mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với mục tiêu và tương ứng với chúng có các phương pháp và chuẩn kiểm tra, đánh giá nhất định [6]. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2004) đã phân tích chức năng kiểm tra, đánh giá, trong đó nhận mạnh chức năng hỗ trợ điều chỉnh của kiểm tra, đánh giá đối với quá trình dạy học [8]. nghiên cứu chỉ ra rằng Lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng rong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lý tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển của giáo dục. Về quản lý nhà trường, các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong "Những khái niệm cơ bản về lý luận, quản lý giáo dục" cho rằng: "Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch hoá; kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra, trong đó, giai đoạn 5 - kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ" [25]. Trên cơ sở đó, tác giả kết luận: "như vậy, theo lý thuyết xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý.
Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra, không có quản lý" [25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Tác giả Hà Sỹ Hồ (1985) trong cuốn: "Những bài giảng về quản lý trường học" đã cho rằng: "Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý" hay "Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu" [9]. Nghiên cứu thực trạng vấn đề kiểm tra nội bộ trường học ở Việt Nam cũng có một số các công trình nghiên cứu cơ bản sau: Năm 2014, tác giả Lại Thị Thanh Huyền nghiên cứu: “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: CBQL các nhà trường hằng năm đã xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch KTNB trường học, điều đó đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Tiểu học trên địa bàn.