CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KÉT HỢP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO 1. Một số khái niệm chung 1. Khai niệm nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học đề tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.[26] NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,. đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, va dé sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. [25; 32] NCKH học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng. NCKH là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thé giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé cải tạo thé giới [38].TS Dương Thiệu Tống: “NCKH là một hoạt động có hệ thong nhằm khám phá, phát triển và kiểm chứng những kiến thức mới mẻ.
Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các các dữ kiện lại với nhau rồi roi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch ” [26]. Cũng theo những quan điểm trên, PGS.Vũ Cao Đàm cho rằng NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là: “Kham pha những thuộc tính ban chất của sự vật và hiện tượng; phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng; vận dụng qui luật dé sang 14 tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng. NCKH là một qua trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tr duy, để khám khá các hiện tượng, phát hiện qui luật đề nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các dé xuất trên cơ sở kết qua NC” [3S]. Mục dich của nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của bat cứ trường DH, CD nào.
Mỗi nhà trường muốn làm mới mình, muốn không bị lạc hậu, muốn luôn đổi mới, sáng tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo, cần thiết phải coi trọng hoạt động nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình dao tao của mình. [26; 32] NCKH là hoạt động không thé thiếu đối với các trường DH, CD nói chung và người GV nói riêng. NCKH là động lực thúc đây GV say mê nghề nghiệp, giúp cho GV làm chủ được tri thức trên cơ sở độc lập suy nghĩ, sáng tạo, biết vận dụng tri thức vào bài giảng cũng như thực tiễn cuộc sống. Mỗi bài viết, mỗi vấn đề nghiên cứu đòi hỏi GV phải vạch ra đề cương, đọc những tài liệu liên quan.
Vì thế, GV có quá trình tích luỹ về lượng dé biến đổi về chất; tri thức ngày càng được mở rộng và chuyên sâu hơn.[3; 34] Các hoạt động NCKH của trường đại học, cao đăng phục vụ hoàn thiện mục tiêu, đổi mới chương trình đảo tạo, cập nhật và hiện đại hóa nội dung môn học, xây dựng hệ thống tài liệu học tập: giáo trình, tài liệu tham khảo,. nhằm đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Thông qua NCKH để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu của đội ngũ GV và các nhà NC của nhà trường, từ đó, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp nhu cầu xã hội. Mặc khác, qua NCKH nhà trường góp phan vào việc giải quyết các van dé lý luận và thực tiễn kinh tế - xã hội đặt ra trong công cuộc đổi mới và hội nhập toàn cau.[1; 2] Nghiên cứu khoa học trong giáo dục nhằm:[29; 27] - Góp phan xây dựng hệ thống lý luận của khoa học giáo dục; - Góp phan nâng cao hiệu quả, chat lượng giáo duc và đào tạo; 15 - Gop phan nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho người nghiên cứu khoa học; - Góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách giáo dục 1.
Nguồn nhân lực NCKH trong trường đại học Trong khuôn khổ của Luận văn này, khi nghiên cứu nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học trong trường đại học tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các đối tượng là lực lượng nghiên cứu chuyên nghiệp; lực lượng vừa nghiên cứu vừa tham gia giảng dạy - đào tạo, và lực lượng vừa nghiên cứu vừa quản lý trong nhà trường. Giảng viên là người trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo, và là nhân tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Trong hệ thống tô chức của một trường đại học, bên cạnh giảng viên — lực lượng chủ yếu của trường còn có cán bộ quản lý, chuyên viên trong các phòng ban kiêm nhiệm giảng dạy va tập sự. Giảng viên Dai học — Cao đăng phải thực hiện những nhiệm vụ chính là giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn NCKH, hướng dẫn thực tập tốt nghiệp; bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; tham gia công tác quản lý của trường: thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân với xã hdi.[39; 35; 36] s* Giảng viên được phân theo ngạch như sau: [2; 3; 34; 35] - Trợ giảng và Giảng viên tập sự: là người được tuyén dung vào ngạch giảng viên đang trong thời kỳ tập sự giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Trợ giảng và giảng viên tập sự có nhiệm vụ hỗ trợ, đảm nhiệm một phần công tác giảng dạy môn học dưới sự hướng dẫn, chịu trách nhiệm của giảng viên phụ trách môn học. - Giảng viên: Là người có chuyên môn dam nhiệm việc giảng day và đào tạo ở bậc DH, CD thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường. GV có nhiệm vụ giảng day các môn học được phân công: tham gia hướng dẫn, đánh giá, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp đại học; tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học; thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, và quy chế của các trường đại học. 16 - — Phó Giáo su - Giang viên chính: Là người chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH và sau đại học.
Phó Giáo sư, GV chính có nhiệm vụ là giảng dạy các môn học được phân công, tham gia giảng dạy sau đại học, bồi dưỡng sinh viên giỏi; chủ trì hướng dẫn luận văn, đồ án tốt nghiệp, chủ trì hoặc tham gia hướng dẫn luận văn thạc sĩ, phản biện luận án tiễn sĩ, hướng dẫn NC sinh và thực tập sinh, có trách nhiệm bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu phát trién chuyên môn; chủ trì tham gia thiết kế xây dựng mục tiêu, kế hoạch chương trình đào tạo, chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình. - — Ngạch Giáo sư - Giảng viên cao cấp: Là người chuyên môn cao nhất đảm nhiệm vai trò chủ trì, tổ chức chỉ đạo và thực hiện giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học và sau đại học. Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học & công nghệ. Giáo sư - GV cao cấp có nhiệm vụ giảng dạy đại học, bồi dưỡng sau đại học, hướng dẫn nghiên cứu sinh, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy về nghiệp vụ và chuyên môn, nghiên cứu thực nghiệm khoa học, chủ trì các đề tài cấp Nhà Nước và cấp Bộ quản lý, chủ trì biên soạn giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, nghiên cứu, báo cáo khoa học.
- _ Giảng viên kiêm chức: GV được bỗ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo hoặc kiêm nhiệm các công tác quản lý, đảng, đoàn thể có nghĩa vụ tham gia giảng dạy. GV kiêm chức vụ có nhiệm vu như GV, GV chính nhưng chỉ dành một phần thời gian công tác cho giảng dạy còn lại là thời gian chủ yếu (từ 70% trở lên) dành cho một nhiệm vụ được giao nào đó của nhà trường như quản lý ở các phòng, ban, khoa, .trong trường. - Giảng viên thính giảng: là cán bộ, chuyên viên, GV ở các cơ quan khác, cán bộ nghỉ hưu, doanh nghiép hoặc diện tự do được nhà trường mời tham gia giảng dạy theo những chuyên dé, khoá học ngắn hạn, môn học, thường được ký các hợp đồng thời vụ, ngắn hạn. 17 s* Phân loại giảng viên theo học vị - Học vị Cứ nhân: là một hoc vi dành cho những người da tốt nghiệp đại học thuộc các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm, luật, kinh tế (cử nhân khoa học, cử nhân kinh tế, cử nhân luật.
Thời gian đào tạo của chương trình đào tạo cử nhân thường là 4 năm. Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các ngành kỹ thuật được cấp bằng kỹ sư; ngành kiến trúc được cấp “bằng kiến trúc sư”; ngành y được cấp “băng bác sĩ” hoặc “bằng cử nhân”; ngành duoc cấp “bằng dược sĩ” hoặc “bằng cử nhân”. - Hoc vị Thạc si: Những người có trình độ thạc sĩ là những người có trình độ chuyên ngành vững chắc, năm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc ngành, chuyên ngành được đào tạo. Sau khi được học nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy được, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng như NCKH trong chuyên ngành đào tạo.
- _ Học vị Tiến sĩ: Chỉ những người hoàn thành quá trình nghiên cứu sau thạc sỹ, công nhận luận án nghiên cứu của họ đã đáp ứng tiêu chuẩn bậc tiến sĩ. Đây là những nhà khoa học độc lập, là người có kiến thức chuyên sâu, có khả năng xử lí thông tin hữu hiệu, có khả năng phát hiện vấn đề, có kĩ năng nghiên cứu khoa học, và có thể sáng tạo ra những tri thức khoa học mới.