Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Bất cứ ở giai đoạn lịch sử nào, giáo dục và đào tạo luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc và cả nhân loại. Hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời” và thực hiện chính sách “trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền”.
Luật Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận “giáo dục mầm non là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản”. Luật Giáo dục Thái Lan nhấn mạnh “gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em”. Vì vậy, ở nước ngoài việc huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục, nhất là giáo dục mầm non đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục mầm non.
Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến nay chúng ta chưa lo được nhiều cho giáo dục mầm non. Đây là một mảng còn yếu của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc phục trong thời gian ngắn nhất”. Cũng từ đây giáo dục mầm non đã bước sang trang sử mới, hàng loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ra đời đặc biệt ưu tiên đến giáo dục mầm non, có nhiều Nghị quyết về phát triển giáo dục mầm non trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó xác định “Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều kiện và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn yêu cầu của từng nơi; bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị vào lớp 1”, “Ban hành chuẩn quốc gia về trường học”, “Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1”. Điều đó được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 là: “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10%” [28].
Đồng thời, Trường mầm non có các nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều 2 của Điều lệ trường mầm non, trong đó có nhiệm vụ và quyền hạn: “…Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn…. Từ đó, các địa phương, các cấp quản lý giáo dục và các trường mầm non trong phạm vi cả nước đã khẩn trương thực hiện, huy động mọi nguồn lực xây dựng trường mầm non theo hướng đảm bảo chất lượng giáo dục và thu được kết quả nhất định. Đã có nhiều nhà nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu và đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều hội nghị, hội thảo, công trình khoa học nghiên cứu về việc huy động nguồn lực cho giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non hay xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia… Điển hình như các tác giả: Phạm Minh Hạc có các công trình nghiên cứu: Xã hội hoá giáo dục (1997), Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá (2002) [12]; Phạm Tất Dong: Xây dựng và phát triển xã hội học tập (2002), Phát triển giáo dục hướng tới một xã hội học tập (2012) [9]; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nguyễn Sinh Huy có “Xã hội hóa giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có “Đề án xã hội hóa công tác giáo dục” [14]… Nhiều luận văn Thạc sĩ quan tâm nghiên cứu vấn đề nguồn lực trong giáo dục như: Luận văn Thạc sĩ Giáo dục và phát triển cộng đồng "Huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục đạo đức cho học sinh thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Nguyễn Hải Đăng [10]; Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục "Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long" của tác giả Lê Quốc Lâm [15]; Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục "Phối hợp các nguồn lực trong quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn" của tác giả Đàm Thị Trang Nhung [20]; “Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình xã hội hóa giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng” của tác giả Trịnh Thị Minh (2008) [19]; “Một số kinh nghiệm của Hiệu trưởng trong việc huy động nguồn lực phát triển trường tiểu học tại Buôn Trấp, Đắc Lắc” của tác giả Lê Thị Quý (2010) [23]; “Một số biện pháp chỉ đạo huy động các nguồn lực để phát triển trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc - thành phố Lào Cai” của tác giả Trần Thị Liên (2013) [16]; “Huy động nguồn lực xây dựng Trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thị Mai (2013) [18]; “Huy động nguồn lực xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Đức Thịnh (2015) [27]… Các luận văn đã giải quyết những khía cạnh khác nhau về công tác huy động và phối hợp các nguồn lực trong giáo dục, gắn với từng địa bàn và đối tượng cụ thể trong giáo dục. Cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục địa phương như: “Thực trạng và giải pháp tăng cường cơ sở vật chất xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở Hải Phòng” của tác giả Phạm Thị Loan [17], đăng trên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tạp chí phát triển giáo dục số 2 - tháng 02/2005.
“Quản lý cơ sở vật chất của Hiệu trưởng trong việc xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia ở thành phố Phủ Lý - tỉnh Hà Nam” của tác giả Trần Thị Thu Hằng (2017) [13]. Các công trình nghiên cứu về cơ bản còn mang tính chất phổ quát, một số đã đi vào nội dung huy động nguồn lực như huy động nguồn nhân lực hay huy động các nguồn lực tài chính hoặc tăng cường cơ sở vật chất…để nâng cao chất lượng giáo dục hoặc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Tuy nhiên chưa bàn sâu đến biện pháp quản lý huy động nguồn lực xây dựng trường mầm non theo hướng đảm bảo chất lượng giáo dục, đặc biệt ở địa bàn thành phố Bắc Kạn thì chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này. Hơn nữa, đối với cấp học mầm non ở địa bàn thành phố Bắc Kạn hiện nay, công tác huy động nguồn lực đang được đẩy mạnh, đã có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp.
từng bước góp phần xây dựng trường mầm non theo hướng đảm bảo chất lượng giáo dục. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề huy động nguồn lực xây dựng trường mầm non và áp dụng cho từng địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi khó khăn như Bắc Kạn vẫn là đề tài mang tính cấp thiết, nhất là đối với công tác quản lý giáo dục hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Huy động nguồn lực - Khái niệm Nguồn lực: Theo quan điểm hệ thống: Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện nằm bên trong hệ thống mà người quản lý hệ thống có quyền chi phối, điều khiển nó để thực hiện mục tiêu của mình.
Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: Nguồn nhân lực (con người), nguồn tài lực (nguồn tài chính), nguồn vật lực (nguồn cơ sở vật chất) và thông tin. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nhân lực Thông tin Nguồn lực Tài lực Vật lực Sơ đồ 1. Các thành tố của nguồn lực - Huy động nguồn lực là huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài chính, thông tin của các tổ chức, cá nhân trong xã hội bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau để thực hiện hay phát triển mục tiêu, chương trình, kế hoạch của một ngành, lĩnh vực nào đó. Đảm bảo chất lượng Trường mầm non 1.1: Trường mầm non Điều 2, Điều lệ Trường Mầm non ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Điều lệ trường mầm non có quy định nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non [6], cụ thể như sau: - Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi. Hằng năm, tự kiểm tra theo tiêu chuẩn quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản. - Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.