Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trong các thập niên 60-80 của thế kỷ XX, tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, vấn đề VH, HVVH bước đầu đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cách nghiên cứu tiếp cận HVVH tương đồng với lối sống [9] Bắt đầu từ đầu thế kỷ XX thuật ngữ hành vi (behavior) được sử dụng nhiều và được xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau. Một số quan điểm chủ yếu: Các nhà sinh học đại diện là E.Tooc-đai-nơ (1874-1949) xem hành vi là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định của một cá thể để thích nghi với môi trường đó nhằm đảm bảo cho nó được tồn tại.
Chủ nghĩa hành vi là một trong những trào lưu phổ biến nhất trong tâm lý học tư sản hiện đại. Trường phái này có khá nhiều quan điểm: Trước hết là chủ nghĩa hành vi cổ điển do G.Oat-xơn (1878 - 1958) đề xướng vào năm 1913 tại trường Đại học Sicago, cơ sở thực nghiệm của chủ nghĩa hành vi này là những công trình nghiên cứu của Tooc-đai-nơ về hành vi động vật. Ông quan niệm tâm lý học: “Hành vi người, tức là mọi ứng xử và từ ngữ của con người cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu. Đó là việc nghiên cứu con người làm gì, bắt đầu từ trong bào thai đến lúc chết”.
Vậy so với tâm lý học duy tâm (nghiên cứu một cách trừu tượng) thì nghiên cứu của ông được đánh giá cao hơn. Chủ nghĩa hành vi mới, tác giả tiêu biểu là C.Tôn-men (1886-1959); chủ nghĩa hành vi bảo thủ do B. Xkin-nơ (1904) khởi xướng ra đời dưới ảnh hưởng của học thuyết I.Pap-lốp đã vay mượn thuật ngữ và cách phân loại những hình thức hành vi trong học thuyết này nhưng về bản chất lại không giống nhau. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới trong lĩnh vực GD HVVH cho trẻ như sau: 7 - GD HVVH cho trẻ mẫu giáo trên tiết học (O.Camưcôva) - Coi trọng khâu luyện tập hành vi cho trẻ (X.Pêchêrina) - Hình thành hành vi có ý thức cho trẻ bằng cách tạo ra cac điểm tựa về nhận thức cho trẻ trong các hoạt động và sinh hoạt (E.Xmirnôva) Những nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để tôi xác định: kỹ năng hành vi là một yếu tố trong cấu trúc HVVH, có ảnh hưởng trục tiếp đến kết quả hành vi.
Từ đó kế thừa và xây dựng những đánh giá về kỹ năng HVVH ở trẻ mẫu giáo, đặc biệt là việc định hướng GD HVVH cho trẻ mẫu giáo. Ở Việt Nam Nghiên cứu VH và HVVH ở Việt Nam đã được một số tác giả đề cập tới. Năm 1987-1988, Ban lý luận GD và GD chuyên nghiệp thực hiện đề tài “Nghiên cứu và điều tra về xu hướng nhân cách của học sinh, sinh viên”. Đề tài đã chỉ ra những xu hướng nhân cách của HS, SV trong đó nhấn mạnh HVVH là một bộ phận cấu thành nhân cách.
Đề tài cấp Nhà nước, nghiên cứu về lối sống và môi trường, mã số KX.06-13 được nêu khái quát trong “Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu về VH, văn minh”, mã số KX-06 (1991-1995) như sau: “Lối sống trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể của môi trường sống. Môi trường sống là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm XH và cộng đồng dân cư” Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức ứng xử thực tế của con người trong một môi trường nhất định [9] Trong những năm gần đây, ngoài một số công trình liên quan đến VH lối sống như bàn luận về lối sống, nếp sống, đạo đức chuẩn giá trị XH thì cũng có một vài công trình nghiên cứu HVVH. Tác giả Đỗ Huy, Vũ Khắc Liên với tác phẩm “Nhân cách VH trong bảng giá trị Việt Nam” [26] đã tập trung làm rõ những đặc điểm, thuộc tính tâm lý của các cá nhân biểu đạt cho những giá trị cơ bản trong bảng giá trị Việt Nam và cũng góp 8 phần vào việc hình thành nhân cách VH, HVVH của người Việt Nam. Đây là cơ sở để tạo nên nét đặc trưng của HVVH ở người Việt.
Trong cuốn “Cơ sở VH Việt Nam” [37], tác giả Trần Ngọc Thêm đã xem xét VH khởi đầu từ các điều kiện vật chất quy định và định vị VH Việt Nam, qua đó nhận thức được cái tinh thần là VH nhận thức và VH tổ chức đời sống cộng đồng, để rồi cái tinh thần đó lại tác động trở lại đời sống vật chất hình thành nên cách thức ứng xử giao lưu với môi trường tự nhiên và XH. Trong tác phẩm “VH ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” (do tác giả Nguyễn Viết Chức chủ biên) [12], các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và HVVH đối với môi trường thiên nhiên và người Hà Nội từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng HVVH của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên. Ngoài ra còn có thể kể đến những công trình khác dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo đề cập đến một phương diện nhất định của HVVH.
Chẳng hạn, trong chuyên luận “Tình người, giao tiếp và VH giao tiếp” thuộc công trình “VH - GD, GD - GD và VH”, tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm “Giao tiếp chính là phương tiện thể hiện của tình người. VH giao tiếp của con người có liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng, được hình thành ở họ, ví dụ kỹ năng “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ; tôn trọng các quan điểm, sở thích, thói quen…của người khác” [21, tr. Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đều đã đi nghiên cứu và làm rõ HVVH, những biểu hiện của HVVH. Trong phạm vi nghiên cứu luận luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD của Võ Nguyên Du (2001), "Một số nội dung và biện pháp GD HVVH cho trẻ trong gia đình" cũng đã đưa ra các nội dung và biện pháp GD HVVH cho trẻ trong gia đình rất được quan tâm và được áp dụng có hiệu quả [13].
Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu sâu về quản lý hoạt 9 động GD HVVH cho trẻ mẫu giáo ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Vì vậy, tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Quản lý GD HVVH cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” với hy vọng góp phần thúc đẩy công tác quản lý GD HVVH cho trẻ mẫu giáo các trường mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đạt kết quả cao hơn. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý trường học 1.
Quản lý QL là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, QL là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống XH. QL là nhân tố không thể thiếu trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11] Khi nói về vai trò của QL trong xã hội, ý kiến của Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “QL nguồn nhân lực” là: “QL một quá trình cùng làm việc giữa nhà QL và người bị QL, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [22] Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [29] Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung: - Trong QL bao giờ cũng có chủ thể QL và đối tượng QL, quan hệ với nhau bằng những tác động QL.
Những tác động QL chính là những quyết định QL, là những nội dung chủ thể QL yêu cầu đối với đối tượng QL.Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể QL, nhạc công là chủ thể bị QL (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một sản phẩm “kép” một sản phẩm 10 “siêu sản phẩm” - đó là cả chủ thể QL và chủ thể bị QL đều phát triển, hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của con người. - QL là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội. Lao động QL là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - QL là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện.
Điều đó cũng xác lập rằng QL phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định. Hiện nay, QL thường được định nghĩa rõ hơn: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý giáo dục Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”- NXB Từ điển Bách khoa: “GD là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [25, tr.