CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu nước ngoài Ở nước ngoài, nghiên cứu về dạy học nói chung, dạy học ngoại ngữ nói riêng, tác giả luận văn nhận thấy: Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng quản lí hoạt động dạy học đã được thể hiện trong những quan điểm các nhà triết học, giáo dục học. Khổng Tử (551-479 TCN) đã có những đề xuất về phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh như nguyên lý học đi đôi với hành, phát hiện và giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích năng lực sở trường và phê bình sở đoản.
Theo Benjamin Bloom (1956) được coi là người đầu tiên đưa ra mô hình năng lực A. A Komenxki (1592-1670) quan niệm giáo dục theo phát triển tự nhiên, học sinh phải tìm tòi, lấy hoạt động của người học làm trung tâm; Theo tác phẩm của Philip Powell-Davies, New Directions, Assessment and Evaluation và quyển sách của tác giả Adrian Doff (1995), Teaching English, Cambridge University Press đã hướng dẫn cho giáo viên tiếng Anh về cách dạy và đánh giá học sinh theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Theo Jean – Marc Denomé & Madeleine Roy, tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, NXB Thanh niên. Bên cạnh đó, còn có một số tác giả viết và bàn về lĩnh vực phát triển giáo viên như: Bransford, J, Deny, S, Berliner, D & Hammerness (2005), Theories of learning and their roles in teaching,.
Trong những thập niên gần đây, với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật cũng như tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là không đủ, bởi kiến thức hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thành lạc hậu. Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa giáo dục năng lực và xây dựng chương trình và đánh giá theo năng lực (Williamson, 2007). Chương trình và phương pháp giảng dạy thay đổi, thì phương pháp đánh giá cũng phải thay đổi theo. Vì đánh giá theo năng lực chủ yếu là đánh giá đầu ra.
Nếu năng lực được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một cách kết hợp để giải quyết các 7 vấn đề trong những bối cảnh cụ thể thì các chương trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố này (Birenbaum, et al, 2006). Ưu điểm là độ tin cậy của kết quả sẽ cao hơn và áp lực thi cử sẽ giảm bớt do bài thi nội dung, kiến thức không còn là kết quả duy nhất quyết định sự tiến bộ trong học tập của người học. Kết hợp với các bài kiểm tra, các công cụ khác như đánh giá hồ sơ, phỏng vấn và quan sát học sinh, và tham vấn ý kiến bên thứ ba (thầy cô giáo, người quản lí , cán bộ tư vấn học đường…) cũng được các cơ sở giáo dục sử dụng rộng rãi để đánh giá toàn diện năng lực của thí sinh (Black & William, 1998). Phương pháp đánh giá này còn được gọi là đánh giá thực (authentic assessment).
Hội đồng Cambridge ở Anh đã xây dựng khung đánh giá năng lực tiếng Anh 6 bậc và những thập niên 70, 80 các nước Hàn Quốc, Singapore, Malaysia tập trung cải tiến về phương pháp dạy học tiếng Anh, quản lí đánh giá tiếng Anh. Nghiên cứu trong nước Ở Việt nam, nghiên cứu về dạy học, quản lí dạy học tiếng Anh đã được quan tâm từ những năm cuối của Thế kỷ XX. Ngày 30 tháng 09 năm 2008, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định 1400/QĐ-TTg cho việc thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020. Sau đó, đến năm 2018, Quyết định 2658/QĐ-BGDĐT ngày 23/7/2018 của BGD&ĐT về việc ban hành kế hoạch triển khai Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017- 2025 nhằm bổ sung, điều chỉnh mục tiêu dạy và học ngoại ngữ cho phù hợp với giai đoạn mới.
Để có năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, đào tạo ra thế hệ đáp ứng nhu cầu thời đại 4.0 đòi hỏi người Thầy cũng cần đủ điều kiện về năng lực giáo viên tiếng Anh phổ thông. Các nghiên cứu: ứng dụng khung quy chiếu chung Châu Âu trong thực tiễn dạy học ngoại ngữ hiện nay tại Việt Nam (Đặng Vũ Hoạt, 2012); Khung trình độ Châu Âu và việc nâng cao hiệu quả đào tạo tiếng Anh tại Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Vũ Thị Phương Anh, 2006),. đều tập trung vào mục đích tìm hiểu Khung CEFR, nghiên cứu áp dụng khung CEFR vào dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam dùng kết hợp với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đánh giá năng lực nghề nghiệp giáo viên hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Công văn 8 số 792/ BGD&ĐT- NGCBQLGD ngày 25/3/2014 của Bộ trưởng BGD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện yêu cầu cơ bản về năng lực GVtiếng Anh phổ thông, Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, ban hành kèm theo Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/1/2014. Quyết địnhsố 01/QĐ-BGDĐT năm 2012 củaBGD&ĐT về chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh.
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, đã có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề quản lí hoạt động dạy học tiếng Anh, quản lí hoạt động dạy học theo phát triển năng lực học sinh như: “Quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường trung học phổ thông Quận Tây Hồ, Hà Nội” của Lê Thị Hiền (2014); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Anh (2017), Quản lí dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Hải Dương, tỉnh Quảng Trị,. Nhìn chung, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh, quản lí dạy học tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Song chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc quản lí HĐDH môn tiếng Anh theo hướng PTNLHS các trường THCS tại Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Khái niệm hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực học sinh các trường trung học cơ sở 1. Dạy học Bàn về khái niệm này, có một số nhà khoa học đã quan niệm, tiêu biểu là tác giả Phạm Minh Hạc “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [17] Như vậy, dạy học được hiểu là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học. Hoạt động dạy học Nói đến hoạt động dạy học, nhiều tác giả cho rằng: Hoạt động dạy học là quá 9 trình truyền thụ và lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nhận thức của con người; là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học. Hoạt động dạy củagiáo viên là hoạt động hướng dẫn, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức học tập của học sinh, giúp HS tìm tòi, khám phá tri thức qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân.
Hoạt động học của HS hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý, biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân. Theo quan điểm sư phạm tương tác thì HĐDH là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố là người dạy, người học và môi trường. Mối tương tác này thể hiện qua sơ đồ sau: Thầy Trò Môi trường dạy học Sơ đồ 1. Sơ đồ cấu trúc HĐDH bộ ba: người học - người dạy - môi trường (Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy) [5] Trong mối quan hệ tương tác này người Thầy là chủ thể của hoạt động dạy với mục đích làm cho các em nắm vững được hệ thống kiến thức, hình thành kỹ năng từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách.
Người trò là chủ thể của hoạt động học, người trò phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến của mình. HĐDH trong nhà trường phổ thông luôn diễn ra có kế hoạch, có mục đích; thực hiện nhiệm vụ là cung cấp kiến thức, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho HS. Hai hoạt động này gắn bó mật thiết thống nhất biện chứng với nhau. Dạy điều khiển học, tuy nhiên học phải chủ động sáng tạo; hai hoạt động này có ảnh hưởng của môi trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học đó là một nguồn tiềm năng vô tận và đa dạng, giúp việc dạy học gắn liền với cuộc sống, tạo hứng thú cho HS.
10 Vậy, HĐDH là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Phát triển năng lực học sinh trung học cơ sở (1) Năng lực Năng lực là thiên tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định. [ Bộ GD&ĐT (2014), Tài liệu dạy học và đánh giá năng lực học sinh] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.