phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy phụ đạo học sinh yếu kém trong trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc phụ đạo học sinh yếu kém là nhiệm vụ thƣờng xuyên, quan trọng của các cơ quan chức năng và của mỗi GV. Đối với GV các trƣờng, lớp công việc này lại càng cần thiết hơn, bởi vì phải phát hiện ra những HS học sinh học chƣa tốt. Hơn nữa, ở một mức độ nhất định chƣơng trình không có thời lƣợng để phụ đạo học sinh. Trong công cuộc đổi mới GD hiện nay, việc phát hiện và phụ đạo học sinh yếu kém nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng bộ môn cũng nhƣ chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.
Xác định đƣợc nhiệm vụ quan trọng này, đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phụ đạo học sinh yếu kém trong nhà trƣờng. Ngoài nước Ở Mỹ là nƣớc có nền kinh tế và giáo dục phát triển đứng hàng đầu thế giới, nhƣng tình trạng trẻ em bỏ học, trốn học, tham gia các băng đảng, nghiện hút…không phải ít. Và ngƣời ta chủ trƣơng tập trung các em này trong các trƣờng đặc biệt để giáo dục. Trong cuốn sách “Quản lý những nhu cầu đặc biệt ở nhà trƣờng bình thƣờng” Neville jones và Tim Southgate đã chỉ ra: Với những học sinh bình thƣờng, ta có các giải pháp giáo dục bình thƣờng, đại trà để bảo đảm yêu cầu giáo dục cho số đông.
Nhƣng bên cạnh những học sinh bình thƣờng này, bao giờ cũng có những học sinh khuyết tật về cơ thể nhƣ thiểu năng trí tuệ, mù lòa, câm điếc, tàn tật chân tay…ta phải có những lớp riêng, trƣờng riêng cho loại học sinh này. Mặt khác lại có những học sinh có khuyết tật về tính cách do những nguyên nhân xã hội, số lƣợng cũng không nhỏ, chúng cần đƣợc chăm sóc giáo dục đặc biệt, vì bao giờ chúng cũng có những nhu cầu riêng biệt hết sức chính đáng. Nếu đem những phƣơng pháp giáo dục thông thƣờng áp dụng cho những học sinh đặc biệt này, thì điều đó không chỉ thể hiện cách làm quan liêu, thiếu trách nhiệm của một số nhà sƣ phạm, mà còn cho thấy hơn ai hết, họ chính là những ngƣời đã vi phạm quyền con ngƣời, vi phạm quyền bình đẳng của con ngƣời. Giáo dục hơn ai hết phải 9 là nơi đảm bảo cho quyền con ngƣời và sự bình đẳng của con ngƣời đƣợc phát triển đầy đủ tốt đẹp nhất.
(Neville jones và Tim Southgate, 2002) Aristốt (384-322 trƣớc CN), một nhà triết học, giáo dục lớn của Hi Lạp, đã cho rằng: “Muốn giáo dục con ngƣời phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và nhu cầu phát triển của trẻ. Nếu không tuân thủ qui luật tự nhiên này sẽ dẫn đến sự áp đặt giáo dục hoặc bỏ lỡ thời cơ phát triển của trẻ”. Ông quan niệm trẻ em phát triển qua các thời kỳ, mỗi thời kỳ lứa tuổi có những đặc điểm phát triển riêng về sinh lý và tâm lý nên phải có nội dung, phƣơng pháp và hình thức giáo dục thích hợp. (Aristốt, 384-322 trƣớc CN) Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa ở Tây Âu, một trong những đặc điểm của nhà trƣờng mới là việc giảng dạy cần dựa vào sự hoạt động cá nhân và hứng thú của trẻ.
Theo Deway (1859 – 1952), ngƣời có ảnh hƣởng lớn đến nền giáo dục thực dụng - giáo dục phải xuất phát từ hứng thú và kinh nghiệm thực tế của trẻ em, trong quá trình giáo dục phải chú ý đến trẻ em và tổ chức dạy học phải xuất phát từ những hứng thú của trẻ. (Deway, 1859 – 1952) Trong những công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục Nga, khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên”.Xukhôlinxki, Jaxapob nêu ra một số vấn đề quản lý của hiệu truởng trƣờng phổ thông nhƣ phân công nhiệm vụ giữa hiệu trƣỏng và phó hiệu trƣởng. Các tác giả thống nhất khẳng định: Ngƣời hiệu trƣởng phải là ngƣời lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác lãnh đạo nhà truờng. Zimin, 1985) Ở thời kỳ phong kiến, Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của giáo dục.
Ông cho rằng, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển thì giáo dục là một trong những thành tố không thể thiếu đƣợc của mỗi ngƣời dân, mỗi dân tộc, Dân tộc ngu dốt không thể mạnh đƣợc. Chính vì vậy, ông chủ trƣơng mọi ngƣời đều đƣợc giáo dục. Trong quá trình dạy học, Khổng Tử luôn xuất phát từ ngƣời học để đặt ra yêu cầu và nội dung giáo dục vừa sức. Đối với Khổng Tử, ông áp dụng nguyên tắc “sát đối 10 tƣợng”, tùy trình độ môi sinh (học trò) mà ông dạy cho mỗi ngƣời một cách khác nhau, không đồng loạt.
Do vậy, dù ở trình độ nào học trò của ông cũng có thể tiếp thu đƣợc. Do đó, ông có hàng trăm học trò giỏi. Khổng Tử là ngƣời quán triệt rất cao về nguyên tắc cá biệt hóa đối tƣợng dạy và học trong giáo dục. Trong nước Học sinh yếu kém đƣợc hiểu là những học sinh bị xếp loại yếu hoặc kém về mặt học lực sau một quá trình học tập tại trƣờng phổ thông.
Đó là niềm băn khoăn, trăn trở của lực lƣợng sƣ phạm từ giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp đến CBQL nhà trƣờng. Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ luôn đƣợc coi là động lực và quốc sách hàng đầu, là then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nƣớc. Gần 40 năm trở lại đây đã có nhiều Nghị quyết của Trung ƣơng ban hành về các nội dung này: Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IV, năm 1979 đã nêu “Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, đào tạo những con ngƣời có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nƣớc những năm 90 và chuẩn bị cho tƣơng lai”. (Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam, 1979) Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: "Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
(Quốc hội nƣớc cộng hòa XHCN Việt Nam, 2005) Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Đổi mới chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp dạy và học, phƣơng pháp thi, kiểm tra theo hƣớng hiện đại; nâng cao chất lƣợng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tƣởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, 11 tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. (Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, 2011) Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của ngƣời học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngƣời học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phƣơng pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bƣớc theo các tiêu chí tiên tiến đƣợc xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm học; đánh giá của ngƣời dạy với tự đánh giá của ngƣời học; đánh giá của nhà trƣờng với đánh giá của gia đình và của xã hội”. (Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013) Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phƣơng pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hƣớng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của ngƣời học"; "Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hƣớng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi". (Chính phủ, 2012) Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI, về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đã nêu rõ “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc và toàn dân.
Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ phát 12 triển, đƣợc ƣu tiên đi trƣớc trong chƣơng trình, phát triển kinh tế - xã hội”. Trần Thị Hƣơng có nghiên cứu chuyên đề về Quản lý hoạt động dạy học là những tác động của chủ thể quản lý vào hoạt động dạy học đƣợc tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lƣợng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.