CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi xã hội có những vấn nạn lớn như: chiến tranh, ô nhiễm môi trường, ma túy, HIV/AIDS. Các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa UNESCO, Quỹ cứu trợ Nhi đồng UNICEF đã cùng nhau xây dựng chương trình GD KNS cho thanh thiếu niên, nhằm giúp cho thanh thiếu niên các Quốc gia vượt qua những khó khăn, thách thức của cuộc sống trong xã hội hiện đại.
UNESCO đã cùng với UNICEF và WHO đã tập trung vào nghiên cứu những lĩnh vực quan trọng như: Dinh dưỡng và sức khỏe, sự phát triển toàn diện, cách nuôi dạy an toàn và GD tiền học đường, nhằm giúp cho trẻ phát triển và tự tin bước vào đời tiếp xúc với xã hội hiện đại. Nhiều nước trên thế giới đã đưa nội dung giáo dục KNS vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ở Mỹ, năm 1979, Gilbert J. Botvin và các cộng sự của mình đã lập một chương trình về GD KNS cho trẻ từ 17 – 19 tuổi. Chương trình giúp cho người học có thể từ chối những lời rủ rê sử dụng chất gây nghiện và nâng cao việc tự khẳng định bản thân.
Tiếp sau đó, là nghiên cứu điển hình của Sandy K. Wurtele và Julie Sarno Owens với đề tài: “Teaching personal safety skills to young children”. Công trình đã thực hiện nghiên cứu trên 406 trẻ mẫu giáo, mục đích là xác định mức độ kỹ năng an toàn cá nhân, phòng chống lạm dụng tình dục, qua đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng an toàn cho trẻ nhỏ. [38] Ở Nhật Bản, vấn đề GD KNS cho trẻ là một trong những việc làm hết sức quan trọng, cho nên trẻ em Nhật không phải chờ đến tuổi đến trường mới được GD KNS, mà ngay từ khi mới sinh ra đã được bố mẹ dạy cho những KNS cần thiết.
Khi đến tuổi đi học, trong có môn học Đạo Đức, tất cả những nội dung về KNS đều bao hàm trong 7 môn học này, từ đó hình thành cho học sinh những KNS cần thiết.[2] Ở Indonexia, KNS được nghiên cứu như một khoa học GD và được xem như những kiến thức, kỹ năng, thái độ để người học có thể sống một cách độc lập. Hoạt động GD KNS sẽ mang đến cho người học cơ hội việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chính sách tự chủ của địa phương, tạo ra hiệu quả GD cho người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tại quốc gia này, KNS được quan niệm là những kĩ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập. KNS rộng hơn kĩ năng nghề nghiệp.
Người thất nghiệp hay người về hưu, người đang đi làm hay đang đi học cũng cần có KNS vì ai cũng có những vấn đề đối phó [31; 37]. Tại Ấn Độ: KNS được quan niệm là những khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người. Ở Thái Lan, năm 1996, GD KNS đã được thực hiện thông qua các hoạt động ngoại khóa cùng với chương trình ngăn chặn HIV/AIDS. Đến nay GD KNS đã mở rộng về vấn đề sức khỏe sinh sản, phòng chống nghiện ma túy, về giới tính.
Họ cho rằng KNS giúp con người đương đầu với tất cả những tình huống hằng ngày và đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có cuộc sống hạnh phúc. Nhìn chung, vấn đề KNS và GD KNS đã được các học giả trên thế giới quan tâm, nghiên cứu dưới những tiếp cận khác nhau. Và kết quả những nghiên cứu này đã đặt nền tảng lý luận cho việc giáo dục KNS và quản lý giáo dục KNS trong nhà trường.Tuy nhiên, chủ yếu nghiên cứu cho độ tuổi học sinh tiểu học và vị thành niên, còn với đối tượng trẻ mẫu giáo nói riêng thì chưa được nghiên cứu nhiều. Các nghiên cứu ở trong nước Từ năm 1996, Việt Nam bắt đầu tiếp cận thuật ngữ “kỹ năng sống” thông qua chương trình của UNICEF về “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”.
Tại Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài KNS và giáo dục KNS, điển hình như tác giả: Nguyễn Võ Kỳ Anh, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương, Nguyễn Thanh Bìnhvới nhiều ấn phẩm phục vụ cho đổi 8 mới giáo dục ở chương trình giáo dục KNS cho trẻ, điển hình cuốn “ Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” của Nguyễn Thanh Bình, đã xác định những yêu cầu đối với việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học[2]. Đối với bậc học MN, năm 2009, NXB GD đã xuất bản ấn phẩm “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc [24]. Cuốn sách hướng đến các phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi ở vùng nông thôn. Trong đó, tác giả phân thành 7 nhóm KNS; mỗi nhóm gồm nhiều KNS; mỗi KNS có hướng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ và gợi ý các hoạt động, phương tiện, hình thức GD.
Năm 2010, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương đã xuất bản “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non” [20]. Các tác giả đã khái quát những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ MN, những vấn đề về GD giá trị sống và KNS cho trẻ, ngoài ra còn đưa ra một số trò chơi nhằm GD giá trị sống và KNS cho trẻ. Bộ GD&ĐT đã ra chỉ thị số 40/ BGD ĐTngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 [3]. Bộ GD &ĐT xác định:“Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội”.
Bắt đầu từ năm học 2010 – 2011, trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học số 4945 ngày 18/8/2010 của bậc học MN đã nêu rõ: “tăng cường GD KNS cho trẻ (kĩ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt; kỹ năng tự bảo vệ an toàn bản thân; mạnh dạn trong giao tiếp; thân thiện với bạn bè; lễ phép với người lớn tuổi. Từ đó đến nay trong các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm, Bộ GD&ĐT đều đề ra những nhiệm vụ về GD KNS cho trẻ MN. Mặc dù vậy, việc GD KNS cho trẻ chủ yếu lồng ghép, tích hợp vào các môn học, các hoạt động chứ chưa có văn bản, tài liệu hay giáo trình một cách chính thống. Trong những năm gần, đã có một số công trình nghiên cứu về GD KNS cho trẻ MN nói chung và trẻ 9 mẫu giáo 5 – 6 tuổi nói riêng như: Tạ Thị Thu Hiền về Quản lý GD KNS thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các trường MN thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
[16], Luận án tiến sĩ ngành đo lường và đánh giá trong giáo dục, Trường Đại học quốc gia Hà Nội); Nguyễn Thị Hương Lan: Quản lý hoạt động GD KNS cho trẻ mẫu giáo các trường MN công lập quận Đống Đa, Hà Nội [19], Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, Học viện khoa học xã hội), và nhiều đề tài luận văn thạc sĩ khác. Các kết quả nghiên cứu của các đề tài nêu trên, cơ bản đã tổng thuật và xác định một số vấn đề về cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục KNS và quản lý hoạt động này với các cách tiếp cận khác nhau, đồng thời các tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau của các vấn đề, các đối tượng khác nhau ở những địa bàn nghiên cứu khác nhauvà đã đề xuất các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế với đối tượng, địa phương đó. Tuy nhiên, vấn đề quản lý GD KNS cho trẻ mẫu giáo ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông chưa được nghiên cứu cụ thể. Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 1.Khái niệm kỹ năng sống Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động. Có nhiều quan niệm về KNS và mỗi quan niệm lại được diễn dạt theo cách khác nhau.Tổ chức UNESCO cho rằng: KNS là năng lực của cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Theo UNICEF, KNS là những hành vi cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức, thái độ thành hành động nhằm thích ứng với cuộc sống.
[10] Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho rằng KNS là năng lực tâm lý - xã hội thể hiện khả năng ứng phó của con người với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống; là khả năng duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, thể hiện qua các hành vi 10 phù hợp, tích cực khi tương tác với người khác. Kế thừa và phát huy những quan điểm về KNS của các tổ chức khác nhau trên thế giới, ở Việt Nam trong các tài liệu về KNS, các tác giả quan niệm như sau: Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, KNS là năng lực bao hàm cả tri thức, thái độ, hành vi, hành động trong lĩnh vực đó. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì KNS là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng để giải quyết có hiệu quả các vấn đề. Còn hiểu KNS là khả năng tâm lý xã hội thì năng lực tâm lý xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử chính xác khi tương tác với nguời khác trong các tình huống khác nhau của MTXQ dựa trên nền văn hóa nào đó.
[2; 12] Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng, KNS là một tổ hợp phức tạp của hệ thống kỹ năng nói về năng lực sống, giúp cho con người thực hiện công việc và tham gia cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong điều kiện xác định của cuộc sống.