Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Hệ thống ĐBCL trong trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng. Từ góc độ nghiên cứu khoa học, hệ thống ĐBCL trong trường đại học là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý. Trong công trình “Quality assurance in higher education” (ĐBCL giáo dục đại học, 1998), tác giả Sanjaya Mishra đã đưa ra quan niệm về chất lượng giáo dục đại học, các yếu tố ĐBCL GDĐH, những thách thức của giáo dục đại học thế kỷ XXI [50], v.
Theo các tác giả Van Vught F.F trong cuốn “Quality Management and Quality Assurance in European Higher Education” (QLCL và ĐBCL đại học ở châu Âu) đã coi hệ thống ĐBCL trong trường đại học bao gồm 5 thành tố chính đó là: 1) Cơ quan đánh giá chất lượng bên ngoài có trách nhiệm xây dựng các quy trình và cách thức đánh giá cho các CSGD đại học sử dụng trong thiết kế cơ chế ĐBCL; 2) Tự đánh giá cấp trường dựa trên các quy trình và biểu mẫu đã được cơ quan phối hợp đánh giá chất lượng đưa ra; 3) Đoàn thẩm định tiến hành các cuộc thăm quan các bộ môn/khoa/trường để thảo luận báo cáo tự đánh giá của CSGD và tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan thông qua gặp trực tiếp các đối tượng khác nhau trong nhà trường, đề xuất ý kiến đánh giá và kiến nghị nâng cao chất lượng; 4) Công khai kết quả làm việc của đoàn thẩm định và kết luận đánh giá; 5) Phối hợp kết quả đánh giá chất lượng với cung cấp tài chính cho các CSGD đại học [50]. Tác giả Graeme John Davies trong bài “Ba yếu tố quan trọng ĐBCL giáo dục đại học” đã chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất để hệ thống ĐBCL GDĐH vận hành 6 hiệu quả đó là: Học liệu, giảng viên và kỹ năng nghề. Trong đó, giáo trình phải đảm bảo hướng dẫn cho SV đi từ kiến thức tới kỹ năng và áp dụng vào trong thực tế; ĐNGV phải được đảm bảo về chất lượng giảng dạy; Kỹ năng nghề phải linh hoạt và phát triển, không chỉ dạy những cái đã biết mà phải dạy những cái ngành nghề đó cần [52]. Khi nghiên cứu vấn đề ĐBCL bên trong cơ sở GDĐH, các tác giả R.G trong công trình “Quantity and Quality in Higher Education.
Higher Education Policy ” [46] đã xem xét các yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống ĐBCL bên trong. Theo các tác giả này, thì các yếu tố này bao gồm: - Đầu vào bao gồm các yếu tố liên quan đến SV (trình độ, kinh nghiệm và động lực…), các yếu tố liên quan đến GV (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm đào tạo, sự phát triển đội ngũ…), các yếu tố liên quan đến quản lý, phục vụ và thiết bị (trạm trại, phòng thí nghiệm, lớp học, thư viện…); - Yếu tố quá trình dạy và học được xem là nội dung chính. Việc thường xuyên giám sát công tác giảng dạy, tìm hiểu những khó khăn trong học tập của SV, các vấn đề sư phạm xuất hiện trong quá trình đào tạo để giải quyết kịp thời có ý nghĩa rất cần thiết; - Đầu ra bao gồm kết quả thi cử - so sánh với số liệu quốc gia, số người tốt nghiệp có việc làm, đánh giá của nhà sử dụng lao động, v. Tiếp cận về hệ thống ĐBCL trong trường đại học từ góc nhìn của hoạt động kiểm tra, đánh giá, trong công trình “Handbook on Measurement, Assessment, and Evaluation in Higher Education” (2017), các tác giả C.B Denison đã chỉ ra rằng: Nhu cầu ngày càng tăng đối với các trường đại học để tham gia đánh giá kết quả nhằm mục đích trách nhiệm giải trình đã thúc đẩy nhu cầu thu hẹp khoảng cách giữa thực tiễn giáo dục đại học và tiến bộ trong các lĩnh vực đo lường, kiểm tra đánh giá và đánh giá.
Cuốn cẩm nang nghiên cứu này cũng cung cấp cho các quản trị viên giáo dục đại học, nhân viên phụ trách sinh viên, nhà nghiên cứu tổ chức và giảng viên một khối lượng tích hợp của lý thuyết, phương pháp và ứng dụng hệ thống ĐBCL trong trường đại học. Từ góc nhìn của chính sách giáo dục, trong cuốn “Education Policy: Process, 7 Themes and Impacts” (2006), các tác giả Bell, Leslie and Stevenson, Howard đã khám phá và liên kết ba khía cạnh chính của hệ thống ĐBCL đó là: 1) Chính sách tổ chức; 2) Nguồn lực; 3) Kế hoạch.2 Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐBCL GDĐH. Điển hình là một số công trình cùng với những nội dung nổi bật sau đây: Tác giả Nguyễn Thanh Trọng và Mai Thị Huyền Trang trong công trình “Những vấn đề cơ bản về mô hình ĐBCL của mạng các trường ĐH ASEAN” [32] đã tập trung nghiên cứu mô hình ĐBCL trong các trường ĐH ASEAN. Từ đó, các tác giả này cho rằng, trong bối cảnh GDĐH Việt Nam còn có nhiều hạn chế thì việc lựa chọn và vận dụng mô hình ĐBCL của các nền giáo dục phát triển, trong đó có mô hình AUN-QA là cần thiết.
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình ĐBCL trên thế giới, tác giả Lê Văn Hảo đã đề xuất các trường ĐH Việt Nam có thể lựa chọn cách tiếp cận ĐBCL của AUN-QA (ASEAN University Network - Quality Assurance) vì mô hình AUN- QA chú trọng hơn đến ĐBCL bên trong trường ĐH (bao gồm các hoạt động tự đánh giá, xây dựng hệ thống văn bản ĐBCL và kiểm toán nội bộ.) nên thích hợp hơn với GDĐH nước ta [16]. Tác giả Đào Văn Khanh trong công trình “QLCL ở trường đại học, ISO hay EFQM” lại đi sâu nghiên cứu mô hình ISO (International Organization for Standardization) và mô hình EFQM (Europeran Foundation for Quality Management) trong ĐBCL đào tạo của trường đại học. Tác giả cho rằng nên kết hợp cả hai mô hình này và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm nâng cao và ĐBCL đào tạo của các trường đại học [22]. Tác giả Phạm Xuân Thanh trong công trình “Hệ thống ĐBCL GDĐH của Việt Nam”, trên cơ sở nghiên cứu các mô hình ĐBCL của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ; mô hình ĐBCL của các nước Châu Âu, các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đã đi đến nhận định: Hệ thống ĐBCL của Việt Nam có 3 cấu phần sau đây: 1) Hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH; 8 2) Hệ thống ĐBCL bên ngoài trường ĐH (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá); 3) Hệ thống các tổ chức ĐBCL (các tổ chức đánh giá ngoài và các tổ chức kiểm định độc lập).
Từ đó, tác giả Phạm Xuân Thanh khuyến nghị cần phải “xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong các trường đại học cần được ưu tiên, vì đây là cái nôi để hình thành chất lượng giáo dục, đồng thời là bước đi khởi đầu của việc hình thành một văn hóa chất lượng GDĐH trong mỗi trường đại học” [30]. Nghiên cứu về thực trạng ĐBCL đào tạo tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, một số tác giả đã chỉ ra được những mặt hạn chế cần được khắc phục kịp thời. Tác giả Vũ Thị Phương Anh trong công trình “ĐBCL GDĐH ở Việt Nam với nhu cầu hội nhập” đã nêu lên các vấn đề còn tồn tại trong công tác ĐBCL GDĐH ở nước ta hiện nay cần khắc phục, đó là: 1) Hệ thống ĐBCL ở cấp quốc gia chưa hoàn chỉnh, chưa tách được cơ quan ĐBCL bên ngoài ra khỏi sự chỉ đạo và kiểm soát trực tiếp của Bộ GD&ĐT, Hội đồng quốc gia KĐCL giáo dục vẫn chưa được thành lập; 2) Việc thực hiện ĐBCL bên trong còn mang tính đối phó với yêu cầu của bên ngoài chứ chưa phải là một nhu cầu từ bên trong với mục đích tự cải thiện; 3) Cơ chế ĐBCL hiện nay chưa tạo được sự độc lập giữa ba hoạt động: tự đánh giá (do các trường thực hiện), đánh giá ngoài (do một cơ quan độc lập bên ngoài nhà trường thực hiện), và công nhận kết quả (do cơ quan quản lý nhà nước trong GDĐH hoặc hiệp hội các trường ĐH thực hiện); 4) Các tiêu chuẩn chất lượng chưa thể hiện được quan điểm phân tầng (stratification) đối với hệ thống GDĐH Việt Nam; 5) Chưa có hệ thống các tiêu chuẩn chất lượng để thực hiện kiểm định các CTĐT; các hiệp hội nghề nghiệp trong việc kiểm định CTĐT chưa thể hiện vai trò của mình; 6) Nhân sự hoạt động trong toàn hệ thống ĐBCL quốc gia còn thiếu về số lượng và chất lượng; 7) Hệ thống thông tin phục vụ quá trình đánh giá còn yếu và thiếu; tính minh bạch của thông tin còn thấp,v. Tác giả Phạm Thành Nghị trong cuốn “QLCL GDĐH” đã nhận định: chất 9 lượng của các trường ĐH chỉ được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động ĐBCL.
Trong đó, ĐBCL bên trong trường ĐH “phải được xem là điểm xuất phát, là nền tảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng GDĐH” [25, tr129]. Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Quý Thanh trong bài “ĐBCL GDĐH - Nhìn từ một số cặp phạm trù” đã đưa ra những nhận định đáng quan tâm, đó là: ĐBCL ở Việt Nam đang hội nhập với thế giới nhưng còn nhiều cái riêng; Nhận thức của xã hội về bản chất của ĐBCL đang thay đổi nhưng còn chậm; Vẫn còn sự tiếp cận chưa đúng với bản chất của ĐBCL; Cái tất yếu là chất lượng giáo dục nhưng tiềm năng để có được nó chưa phát triển rõ ràng, sự liên kết chia sẻ là cần thiết [29].