phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trƣờng tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trƣờng tiểu học thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trƣờng tiểu học tiểu học thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đƣợc hình thành và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài ngƣời, luôn đƣợc mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Với tƣ cách là một bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng, những tƣ tƣởng đạo đức đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Theo chiều dài lịch sử, có rất nhiều quan điểm về đạo đức: Ở phƣơng Tây, thời Hy Lạp – La Mã cổ đại, có nhà triết học Sorate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, muốn xác định đƣợc chuẩn mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phƣơng pháp nhận thức khoa học. Ở phƣơng Đông cổ đại, có nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc là Khổng Tử (551 – 479 TCN).
Ông xây dựng học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”. Trong đó, “Nhân“ – Lòng thƣơng ngƣời – là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con ngƣời. Khi đề cập đến vấn đề GDĐĐ con ngƣời chúng ta không thể không nhắc đến Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ngƣời sáng lập ra đạo Phật, một trong những tôn giáo có tầm ảnh hƣởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng nhƣ hiện nay.
Đạo đức Phật giáo nổi bật với các giá trị phổ quát nhất về lòng từ bi, đem tình yêu thƣơng đến với mọi ngƣời, tu tâm, hành thiện và xây dựng các mối quan hệ xã hội đã định hƣớng cho cho lý tƣởng sống con ngƣời và trở thành kim chỉ nam hƣớng con ngƣời đến Chân - Thiện - Mỹ. Bản chất của đạo đức Phật giáo là hƣớng đến giáo dục đạo đức con ngƣời với những phẩm chất cao quý: từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha. 7 Tác phẩm “Bài ca sƣ phạm“ của A.Makarenko (1888 – 1939) là tác phẩm nổi tiếng trong lịch sử giáo dục xã hội chủ nghĩa, đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của GDĐĐ, nêu lên các biện pháp giáo dục đúng đắn. Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh sự thiết của nền giáo dục sớm đề cao quyền uy và dựa vào sự nêu gƣơng, nguyên tắc giáo dục tập thể.
Nguyên tắc giáo dục này đã đƣợc nhiều nhà giáo dục trên toàn thế giới quan tâm và áp dụng vào quá trình giáo dục của mình [2]. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin là khoa học và tiến bộ nhất. Chủ nghĩa Mác – Lê Nin cho rằng, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng. Nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội.
Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Nhƣ vậy, đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhƣng lại mang đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử [10]. Các nghiên cứu ở trong nước Việt Nam là đất nƣớc có nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, đã trở thành những giá trị triết học Việt Nam; nhiều trong số những truyền thống đó đã đƣợc lƣu vào sử sách, trở thành những nội dung GDĐĐ cho thế hệ trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngƣời anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại đã để lại cho chúng ta một di sản văn hóa quý báu trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực.
Ngày 21 tháng 10 năm 1964, khi về thăm trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội, Bác Hồ đã dạy: “Công tác GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quan trọng” [24]. Tác giả Hà Thế Ngữ đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học 8 xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dƣỡng ý thức đạo đức cách mạng, hƣớng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh [25].
Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách. Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã dành một chƣơng cho vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu giáo dục đạo đức trong các công trình nghiên cứu của mình [12]. Trên địa bàn tỉnh Bình Định cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh nhƣ: - Trần Xuân Cảnh (2003), Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trƣờng Đại học Quy Nhơn, Luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Đại học Quy Nhơn, Bình Định. - Nguyễn Thị Trúc Giang (2012), Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các Trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Đại học Quy Nhơn, Bình Định.
- Võ Văn Vinh (2014), Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Bình Định trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Đại học Quy Nhơn, Bình Định. - Văn Tám (2020) ,Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các Trƣờng trung học cơ sở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Đại học Quy Nhơn, Bình Định. Các luận văn đều đề cập đến khái niệm đạo đức, hoạt động GDĐĐ cho 9 đối tƣợng HS ở các trƣờng trong hệ thống giáo dục quốc dân và phân tích bối cảnh, các điều kiện tiến hành GDĐĐ cũng nhƣ các biện pháp GDĐĐ và quản lý GDĐĐ. Tuy nhiên, GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho từng đối tƣợng, từng địa bàn cũng có nhiều đặc điểm khác nhau đặc biệt là HS ở cấp tiểu học khi nhận thức của các em còn hạn chế, chƣa phân biệt đƣợc các hành vi đúng sai.
Hiện nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho HS TH trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” với hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trƣớc và cùng góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức ở các trƣờng tiểu học trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1.1 Quản lý Quản lý là một dạng lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhƣng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội.
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định. Chính sự phân công, hợp tác này đòi hỏi phải có ngƣời đứng đầu, chỉ huy, tức là phải có sự quản lý. Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội, nó điều khiển các hoạt động chung khi xã hội có sự phân công lao động. Quản lý đƣợc nhiều tác giả khác nhau định nghĩa nhƣ: - Theo Aunapu F.F, “Quản lý là khoa học và là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con ngƣời nhằm đạt đƣợc những 10 mục tiêu xác định.
Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau” [1]. - Theo Koozt, O’Donnell và Weilhrich (1994) định nghĩa “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [14].
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ƣu và bảo đảm thực hiện những chƣơng trình và mục tiêu của hệ thống đó” [17]. - Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [30]. Tóm lại, quản lý là tác động có ý thức, có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong mỗi tổ chức bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra với chất lƣợng và hiệu quả tối ƣu trong điều kiện biến động của môi trƣờng, làm cho tổ chức vận hành tốt.