Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Thực trạng công tác quản lý định hình và phát triển VHNT trong các trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Biện pháp quản lý định hình và phát triển VHNT trong các trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỊNH HÌNH VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở ngoài nước Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,. Có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu, hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
VHNT cũng là văn hoá của một tổ chức bởi lẽ xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính-sư phạm. Đó là một thế giới thu nhỏ với chuẩn mực, quy tắc ,cơ cấu hoạt động, có những giá trị, điểm mạnh và điểm 8 yếu riêng, do quá trình lịch sử và những con người cụ thể mọi thế hệ tạo lập. Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960. Từ đó đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu về VHTC, và đã nêu định nghĩa về VHTC: - VHTC là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong tổ chức (Williams, A, Dobson, P & Walters).
- Văn hoá thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong tổ chức và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài (Kotter, J. - Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực (Gold, K. - VHTC là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian (Michel Amiel, Prancis Bonnet, Joseph Jacobs – 1993). Những nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước (Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2 tháng 8 năm 2007).
Quy chế quy định về trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ cũng như việc bài trí công sở tại cơ quan hành chính Nhà nước. Văn hóa công sở là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác trong công sở. Văn hóa công sở còn là một hệ thống được hình thành trong quá trình hoạt động của công sở, tạo dựng nên niềm tin, giá trị về thái độ của CB làm việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việc trong công sở và hiệu quả hoạt động của nó. 9 VHTC của một nhà trường có cội nguồn trong văn hóa của môi trường xã hội mà trường ấy đang hoạt động, cũng như trong lịch sử của nhà trường.
Nó có tương tác với môi trường, bị chi phối bởi đặc điểm văn hóa của từng cá nhân, và nó rất chậm thay đổi. Cho đến nay, một số tác giả quan tâm nghiên cứu lý luận về việc xây dựng văn hóa học đường, VHNT. Có thể kể đến: - Phạm Hồng Quang (2003), Văn hóa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. - Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, NXB Giáo dục.
- Vũ Thị Sơn (số 102/2004), Môi trường học tập trong lớp, Tạp chí Giáo dục. - Phạm Quang Huân (2007), Văn hóa tổ chức, hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường, Báo cáo Khoa học đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa học đường do Viện nghiên cứu sư phạm, Trường ĐHSP Hà Nội tổ chức năm 2007. - Lê Quang Hưng (9/2007), Khoa học Việt Nam – ĐHSP Hà Nội, Những cơ sở của việc xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh đất nước hội nhập, đổi mới hiện nay, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường – Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, Hà Nội. - Trường ĐHSP Hà Nội (9/2007) – Viện Nghiên cứu sư phạm, Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường – Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, Hà Nội.
- Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý trường phổ thông, Chuyên đề 14 Xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường. 10 - Lê Thị Ngoãn (2009), Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định, Luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục, Trường Đại học Thái Nguyên. - Hoàng Quốc Đạt (2018), Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục, Học viện khoa học xã hội. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đây tập trung vào nghiên cứu về lý luận về xây dựng VHNT, chưa nghiên cứu sâu về các biện pháp quản lý định hình và phát triển VHNT trong trường phổ thông.
Trong những năm gần đây, các trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn cũng đã có sự chú ý tới công tác xây dựng văn hóa trong các nhà trường. Tuy nhiên, việc chỉ đạo thực hiện và kết quả công tác xây dựng văn hóa nhà trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn nói riêng vẫn nặng về khẩu hiệu tuyên truyền là chính, thiếu chiều sâu, chưa rõ nét và có phần còn hạn chế. Trên thực tế, công tác quản lý trường học của Hiệu trưởng các trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn chủ yếu mới tập trung vào quản lý chuyên môn và quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường, đặc biệt là trong những năm gần đây cùng với việc đổi mới nhiều mặt trong lĩnh vực giáo dục, công việc của Hiệu trưởng, giáo viên, các bộ phận của nhà trường ở các trường THCS ngày càng nhiều lên dẫn đến việc quan tâm đến định hình và phát triển văn hóa nhà trường không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, dựa trên những kết quả nghiên cứu các trường, luận văn chọn nghiên cứu đề tài với hy vọng góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng VHNT ở trường phổ thông, đồng thời đề xuất một số biện pháp của Hiệu trưởng các trường THCS khu vực xã đảo thuộc thành phố Quy Nhơn, 11 tỉnh Bình Định trong công tác quản lý định hình và phát triển văn hóa nhà trường góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Các khái niệm chính của đề tài 1.Văn hóa “Văn hóa” là một khái niệm đa nghĩa, đến nay người ta đã đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Điều đó cho thấy sự phong phú, đa dạng của văn hóa và sự bao trùm, chi phối mạnh mẽ của nó lên toàn bộ hoạt động, mọi lĩnh vực của xã hội, của mỗi cộng đồng, mỗi tổ chức, mỗi gia đình và mỗi cá nhân. Về thuật ngữ gốc, trong tiếng Hán cổ, “Văn” có nghĩa là đẹp; “Hóa” là thay đổi, biến hóa. Văn hóa có nghĩa là biến đổi một cái gì đó cho đẹp, đẹp hơn.
Ở đây văn hóa là giáo hóa, là giáo dục và cảm hóa cá nhân và xã hội đi theo cái đẹp. Trong ngôn ngữ phương Tây, tiếng Anh, tiếng Pháp từ Văn hóa là Culture, có gốc La tinh: Cultura nghĩa là vun trồng. Vun trồng cây cối ngoài đồng, chăm sóc cây từ khi còn là mầm non yếu ớt cho đến khi trưởng thành ra hoa kết trái. Cultus: có nghĩa là thiêng liêng.
Chuyển vào trong xã hội, sự nghiệp vun trồng được gọi là Cultura animi = vun trồng tinh thần (vun đắp tinh thần con người từ nhỏ đến trưởng thành). Như vậy, thuật ngữ Cultura vừa có nghĩa là cái rất quý giá, thiêng liêng, vừa có nghĩa là sự chăm sóc, vun trồng. Tuy có sự khác nhau, nhưng điểm cốt lõi và giống nhau trong quan niệm của người phương Đông và phương Tây cổ đều coi văn hóa không phải là một vật, là một cái gì đó quan sát và cầm nắm, sờ được, mà là một trạng thái, tính chất và tác động đến đời sống của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Theo Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,1992), văn hóa được hiểu theo 2 nghĩa: 12 - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học.
- Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh nhân loại. Theo cách hiểu này, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của lịch sử loài người.