Tổng quan nghiên cứu

Chùa Vĩnh Thái (tọa lạc tại xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa) là một thiết chế văn hóa - tôn giáo đặc sắc, vừa mang giá trị kiến trúc nghệ thuật khởi dựng từ thế kỷ 16, vừa là địa chỉ đỏ cách mạng gắn liền với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1930 - 1945. Theo Quyết định số 56/VHTT ngày 01/4/1999 của Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thanh Hóa, công trình chính thức được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa và cách mạng cấp tỉnh. Trải qua bom đạn chiến tranh làm san phẳng toàn bộ khuôn viên cổ, đến năm 1996, di tích mới bắt đầu được nhân dân địa phương phục dựng lại bằng vật liệu tranh tre nứa lá.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán dung hòa giữa việc bảo tồn không gian thiêng tín ngưỡng Phật giáo với nhiệm vụ phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng trong bối cảnh công nghiệp hóa và xã hội hóa văn hóa. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý di tích; làm rõ không gian văn hóa và nghệ thuật kiến trúc tạo hình; khảo sát thực trạng quản lý nhà nước từ năm 1999 đến năm 2021; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tại địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ quần thể di tích chùa Vĩnh Thái tại xã Hoàng Giang trong khung thời gian từ khi phục dựng năm 1999 đến năm 2021. Ý nghĩa của luận văn thể hiện qua việc lượng hóa các tiêu chí quản lý, bảo tồn 100% các tài liệu hiện vật cách mạng, thu hút hơn 15.000 lượt khách tham quan mỗi năm và nâng cao tỷ lệ hài lòng của cộng đồng cư dân lên trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp hai khung lý thuyết nền tảng: Lý thuyết quản lý nhà nước về di sản văn hóa và Lý thuyết xã hội hóa hoạt động văn hóa. Cụ thể, khung lý thuyết quản lý nhà nước được xây dựng dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nghị định số 92/2002/NĐ-CP và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ, quy định rõ 8 nội dung quản lý nhà nước từ khâu ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, bảo quản tu bổ, đến thanh tra kiểm tra. Ngoài ra, lý luận quản lý văn hóa của các học giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn được ứng dụng để làm rõ cơ chế tác động giữa chủ thể quản lý và khách thể di sản.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng theo cấu trúc đồng quản lý đa tầng: Nhà nước giữ vai trò định hướng pháp lý và kiểm tra giám sát (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, Ủy ban nhân dân xã Hoàng Giang); Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng Ban trụ trì chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tôn giáo; cộng đồng dân cư đóng vai trò chủ thể bảo vệ, sáng tạo và đóng góp nguồn lực. Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Di sản văn hóa (theo Công ước UNESCO 1972), Di tích lịch sử - văn hóa, Di tích cách mạng, Quản lý nhà nước về di tích, và Xã hội hóa di sản văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Sắc lệnh số 65-SL năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Luật Di sản văn hóa năm 2001 và năm 2009, Quyết định 56/VHTT năm 1999), hồ sơ khoa học xếp hạng di tích và số liệu điền dã thực tế trong giai đoạn 1999 - 2021. Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp: tổng hợp phân tích tài liệu, khảo sát điền dã thực địa, phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử và phương pháp so sánh đối chiếu với các mô hình quản lý tại Thái miếu nhà Hậu Lê, chùa Đại Bi và chùa Hương Tích.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa được xác lập gồm 150 đối tượng, thu về 142 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 94,7%), bao gồm 40 cán bộ quản lý văn hóa các cấp, 52 tăng ni phật tử thường trú và 50 du khách hành hương. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hỗn hợp định lượng và định tính này là nhằm phản ánh khách quan thực trạng nhận thức của cộng đồng, đo lường chính xác các chỉ số đánh giá công tác quản lý và tìm ra các điểm nghẽn trong quản lý di tích cấp cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện mạo kiến trúc và cảnh quan chùa Vĩnh Thái đã có bước phát triển vượt bậc sau giai đoạn tái thiết tranh tre năm 1996. Kể từ khi có sư trụ trì năm 2006 đến năm 2020, khuôn viên di tích đã hoàn thành xây dựng hơn 8 hạng mục quy mô: Nhà truyền thống cách mạng (năm 2007), tòa Đại hùng Bảo điện 2 tầng khang trang (năm 2009 - 2010) với 12 cột cái tiền đường cao 4,5m đường kính 35cm, Nhà tổ 5 gian diện tích 212,5m² (chiều dài 25m, chiều rộng 8,5m), Lầu Quan Âm trên ao Thất bảo (năm 2011), Phủ Mẫu (năm 2014), Tháp chuông lục giác đúc đại hồng chuông nặng 1.100 cân đồng (năm 2016), và Nhà giảng đường 300m² (năm 2019 - 2020).

Thứ hai, cơ cấu tài chính cho thấy nguồn lực xã hội hóa giữ vai trò quyết định, chiếm khoảng 88% tổng kinh phí đầu tư xây dựng, tôn tạo di tích qua các giai đoạn, trong khi nguồn ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ chiếm tỷ lệ khoảng 12%. Điều này phản ánh sức mạnh gắn kết của các nhà hảo tâm và tín đồ Phật tử địa phương.

Thứ ba, công tác bảo tồn di sản cách mạng gắn liền với giai đoạn 1930 - 1945 đã phát huy giá trị giáo dục truyền thống sâu sắc. Nơi đây từng là trạm liên lạc bí mật của Xứ ủy Trung kỳ, in đậm dấu ấn hoạt động của cụ Nguyễn Thị Hòe (thân mẫu học giả Đào Duy Anh) và cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giai đoạn 1939 - 1941, đón tiếp trung bình trên 12.000 lượt khách mỗi năm vào các dịp lễ hội rằm tháng Giêng, Đại lễ Phật Đản và Lễ Vu Lan.

Thứ tư, công tác cán bộ quản lý còn nhiều bất cập khi khoảng 65% nhân sự tham gia tổ quản lý di tích tại cơ sở là cán bộ kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo chuyên sâu về chuyên môn di sản và kỹ năng bảo quản hiện vật bảo tàng.

Thảo luận kết quả

Sự chuyển biến tích cực trong công tác quản lý tại chùa Vĩnh Thái bắt nguồn từ sự phối hợp nhịp nhàng giữa Giáo hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa và chính quyền xã Hoàng Giang. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với tốc độ nhanh cũng đặt ra nguy cơ làm biến đổi các yếu tố gốc của di tích lịch sử cách mạng. So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thục (2008) về di tích Thanh Hóa và Vũ Đức Dương (2006) tại Thái miếu Đa Hòa, luận văn nhận thấy việc quản lý một di tích mang tính chất kép đòi hỏi phải phân định ranh giới rõ ràng giữa không gian thực hành tín ngưỡng và không gian bảo tồn lịch sử.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn tôn tạo (88% xã hội hóa so với 12% ngân sách nhà nước) và bảng phân tích 142 phiếu điều tra đánh giá chất lượng quản lý (mức Tốt: 62%, mức Khá: 26,8%, mức Trung bình: 11,2%). Biểu đồ ma trận phân tích điểm mạnh - điểm yếu khẳng định sự cần thiết phải sớm ban hành quy chế phối hợp quản lý liên ngành chặt chẽ hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện Quy chế phối hợp liên ngành giữa Ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, Phòng Văn hóa - Thông tin và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo huyện, hoàn tất ký kết văn bản trong năm 2022 nhằm kiểm soát 100% các hoạt động xây dựng, trùng tu di tích tuân thủ theo Luật Di sản văn hóa.
  • Tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý di sản cho 100% cán bộ văn hóa xã Hoàng Giang và ban quản lý cơ sở, bảo đảm thực hiện tối thiểu 2 đợt tập huấn chuyên sâu hàng năm trong giai đoạn 2022 - 2025 về kỹ năng bảo tồn hiện vật và nghiệp vụ thuyết minh du lịch.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa gắn liền với chuyển đổi số, tiến hành quét 3D toàn bộ không gian kiến trúc 8 hạng mục và gắn mã QR tra cứu thông tin cho 100% tư liệu, hiện vật cách mạng giai đoạn 1930 - 1945 trong thời hạn 2023 - 2025.
  • Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ 2 lần/năm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa đối với hoạt động quản lý tài chính hòm công đức và vệ sinh môi trường, đồng thời xây dựng quy chế khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tập thể có đóng góp nổi bật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Nông Cống): Sử dụng làm cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách phân cấp quản lý di tích và kiểm soát hồ sơ trùng tu tôn tạo cấp cơ sở.
  • Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo các cấp và Tăng ni trụ trì tự viện: Nguồn cẩm nang hữu ích về phương thức điều hành tự viện hài hòa giữa việc phát triển cơ sở vật chất Phật giáo và bảo vệ di tích lịch sử cách mạng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Lịch sử: Nguồn tài liệu học thuật tin cậy làm nghiên cứu tình huống điển hình về mô hình quản lý di tích cấp tỉnh tại vùng châu thổ sông Mã.
  • Doanh nghiệp lữ hành và các nhà phát triển du lịch địa phương: Căn cứ thiết thực để xây dựng các tour du lịch văn hóa tâm linh kết hợp tham quan di tích cách mạng trên tuyến Quốc lộ 45 kết nối thành phố Thanh Hóa với huyện Nông Cống.

Câu hỏi thường gặp

1. Chùa Vĩnh Thái có giá trị lịch sử và văn hóa nổi bật nào so với các ngôi chùa khác? Chùa Vĩnh Thái mang giá trị kép độc đáo: vừa là công trình tín ngưỡng kiến trúc chữ Đinh xây dựng từ thế kỷ 16 thời nhà Mạc, vừa là địa chỉ đỏ cách mạng bí mật của Xứ ủy Trung kỳ giai đoạn 1930 - 1945, nơi ghi dấu ấn hoạt động của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và gia đình cụ Nguyễn Thị Hòe.

2. Cơ chế phân cấp quản lý hiện nay tại chùa Vĩnh Thái được thực hiện như thế nào? Di tích được quản lý nhà nước trực tiếp bởi Ủy ban nhân dân xã Hoàng Giang và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Nông Cống, đồng thời hoạt động tôn giáo do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa và sư trụ trì trực tiếp phụ trách từ năm 2006.

3. Quá trình trùng tu tôn tạo chùa Vĩnh Thái sau chiến tranh đã đạt những kết quả gì? Sau khi bị chiến tranh tàn phá, chùa được khôi phục tranh tre năm 1996 và xếp hạng di tích năm 1999. Từ năm 2006 đến năm 2020, chùa đã xây mới hơn 8 hạng mục quy mô, bao gồm tòa Tam bảo 2 tầng bề thế đầu tiên tại Thanh Hóa và đúc đại hồng chuông nặng 1.100 cân đồng.

4. Nguồn kinh phí đầu tư bảo tồn di tích chùa Vĩnh Thái được huy động từ đâu? Theo khảo sát thực tế, nguồn vốn xã hội hóa từ các phật tử, nhân dân và nhà hảo tâm đóng vai trò chủ chốt, chiếm khoảng 88% tổng kinh phí đầu tư tôn tạo các hạng mục. Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ chiếm khoảng 12% phục vụ công tác quy hoạch và bảo tồn di tích cách mạng.

5. Giải pháp nào mang tính then chốt để nâng cao hiệu lực quản lý di tích thời gian tới? Giải pháp then chốt là ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương và Giáo hội Phật giáo, kết hợp chuẩn hóa đào tạo 100% cán bộ cơ sở và ứng dụng công nghệ số hóa 3D cho toàn bộ hiện vật cách mạng giai đoạn 2023 - 2025.

Kết luận

  • Khẳng định vị thế tiêu biểu của di tích lịch sử - văn hóa và cách mạng cấp tỉnh chùa Vĩnh Thái với lịch sử khởi dựng từ thế kỷ 16 và truyền thống cách mạng 1930 - 1945.
  • Đánh giá toàn diện 8 nội dung quản lý nhà nước tại xã Hoàng Giang, làm rõ quá trình phục hồi thành công hơn 8 hạng mục công trình từ năm 1999 đến năm 2021.
  • Xác thực hiệu quả mô hình huy động nguồn lực xã hội hóa với tỷ trọng đóng góp từ cộng đồng đạt khoảng 88% tổng kinh phí.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế liên ngành, nâng cao chất lượng nhân lực, số hóa dữ liệu di sản và tăng cường thanh tra giám sát đến năm 2025.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn mực phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo quản lý văn hóa và định hướng phát triển du lịch bền vững.

Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích khẩn trương hoàn thiện số hóa hiện vật và xúc tiến đề án nâng cấp di tích trong giai đoạn 2023 - 2026. Hãy kết nối với các cơ quan chuyên môn để cùng bảo tồn, phát huy và lan tỏa giá trị di sản quý báu của chùa Vĩnh Thái đến đông đảo công chúng.