Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời Cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà triết học Trung Quốc cổ đại, ông được người đời phong là “vạn thế sư biểu”(thầy của muôn đời).
Khổng Tử đã đưa ra hệ thống các PPGD, phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của người học. Những PP đó đến nay vẫn có ý nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả cao trong GD. Quan niệm về tri thức của Khổng Tử là không chỉ học những tri thức cụ thể mà cao hơn nữa là phải lĩnh hội được gốc rễ của triết lý nhân sinh cũng như nguyên lý của vạn vật. Socrate (469-399 TCN) là nhà triết gia đầu tiên người Hy Lạp đề xuất ra PP hỏi đáp trong dạy học và là người đưa ra PP nổi tiếng trong dạy học là “phép đỡ đẻ”.
Vào giữa thế kỷ XVII, Jan Amos Komensky đã đưa ra PP dạy học trực quan tạo tiền đề mà các nhàGD sau này kế thừa và phát triển như J. Ông đã hình thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở Mỹ. Thuyết này sau đó được Henry Ford ứng dụng qua việc lập ra hệ thống sản xuất theo dây chuyền dài 24km trong Nhà máy ôtô con đạt công suất 7000 xe mỗi ngày (là kỷ lục thế giới thời đó). Ngoài ra, Taylor còn viết nhiều tác phẩm có giá trị khác.
Ông 7 được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học”. Nội dung quản lý theo khoa học dựa trên các nguyên tắc sau: Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp (chia nhỏ các phần việc) và xây dựng định mức cho từng phần việc. Định mức được xây dựng qua thực nghiệm (bấm giờ từng động tác). Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục).
Các thao tác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi. Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ. Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân. Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý.
Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ thể. Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục. Với các nội dung nói trên, năng suất lao động tăng vượt bậc, giá thành thấp; kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao để cả chủ và thợ đều có thu nhập cao. Qua các nguyên tắc kể trên, có thể rút ra các tư tưởng chính của thuyết Taylor là: tối ưu hóa quá trình sản xuất (qua hợp lý hóa lao động, xây dựng định mức lao động); tiêu chuẩn hóa phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp; phân công chuyên môn hóa (đối với lao động của công nhân và đối với các chức năng quản lý); và cuối cùng là tư tưởng “con người kinh tế” (qua trả lương theo số lượng sản phẩm để kích thích tăng năng suất và hiệu quả sản xuất).
Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp, tạo được 8 bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XX cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy. Từ tinh thần cốt lõi ban đầu, đã thu hút nhiều nhà quản lý có tài năng tham gia “Hiệp hội Taylor” để hoàn thiện, phát triển thuyết quản lý theo khoa học. Qua đó, đã hạn chế tính cơ giới của tư tưởng “con người kinh tế”, đặt nhân tố con người lên trên nhân tố trang bị kỹ thuật, nhân bản hóa quan hệ quản lý, dân chủ hóa sản xuất, phát huy động lực vật chất và tinh thần với tính công bằng cao hơn và đề cao quan hệ hợp tác hòa hợp giữa người quản lý với công nhân. Đóng góp đáng kể vào quá trình đó có công lao của Henry L.
Gantt (1861 - 1919) về hệ thống tiền thưởng; của Ông bà Gilbreth về việc loại bỏ các động tác thừa và về cơ hội thăng tiến của người công nhân, v.v… Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô. Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu (có hiệu quả cao), tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản lý. Các thuyết quản lý và trường phái quản lý khác vừa kế thừa thành tựu đó, vừa nâng cao những nhân tố mới để đưa khoa học quản lý từng bước phát triển hoàn thiện hơn. Người ta cũng nêu lên mặt trái của thuyết này.
Trước hết, với định mức lao động thường rất cao đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực. Hơn nữa, người thợ bị gắn chặt với dây chuyền sản xuất tới mức biến thành những “công cụ biết nói”, bị méo mó về tâm - sinh lý, và như vậy là thiếu tính nhân bản. Từ đó, đã từng có ý kiến cho rằng thuyết này đã né tránh, dung hòa đấu tranh giai cấp mang tính cách mạng. Tuy nhiên, tương tự nhiều thành tựu khác của khoa học - kỹ thuật, vấn đề là ở người sử dụng với mục đích nào.
Chính vì thế, trong khi Lênin phê phán đó là “khoa học vắt mồ hôi công nhân”, ông vẫn đánh giá rất cao như một phương pháp tổ chức lao động tạo được năng suất cao, cần được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng 9 chủ nghĩa xã hội, trong đó điều kiện lao động được cải thiện và lợi nhuận từ lao động thặng dư được sử dụng để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần toàn xã hội. Học thuyết của ông vẫn còn nhiều giá trị nghiên cứu, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh QL hiện đại dù có một số hạn chế nhất định. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã có công trình khoa học nghiên cứu về QL, QL HĐ dạy học như: Về QL khoa học QL và QLGD, tác giả Trần Kiểm cũng đã đề cập đến chức năng, nguyên tắc, PP và công cụ QLGD trong quyển “Khoa học quản lý GD – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; tác giả Đặng Quốc Bảo với cuốn “Một số khái niệm về quản lý GD” đã nghiên cứu khái niệm về QLGD; tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc với cuốn “Đại cương khoa học quản lý”;“Quản lý GD một số vấn đề lý luận và thực tiễn”của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Nghiên cứu về QL NT, QL HĐ dạy và học được nhiều tác giả quan tâm như Trần Kiểm (1997), QLGD và trường học; Phùng Đình Mẫn (chủ biên), Trần Văn Hiếu, Hồ Văn Liên, Phan Minh Tiến,Trương Thanh Thúy (2003), Những vấn đề cơ bản về đổi mới GD THPT hiện nay, ĐH Huế.
Tác giả Thái Duy Tuyên, với cuốn “Giáo dục học hiện đại - Những vấn đề cơ bản”, đã đề cập đến nội dung, PP, phương tiện dạy học và tổ chức quá trình dạy học; tác giả Phan Trọng Ngọ đã đề cập đến vấn đề dạy học và PP dạy học trong quyển sách “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”. Những năm gần đây, nhiều luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung, HDDH môn Tiếng Anh nói riêng như:"Một số biện pháp quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh"của tác giả Nguyễn Xuân Linh, năm 2012;“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng 10 Anh ở trường trung học cơ sở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh”, của tác giả Bùi Thị Thanh Huyền, năm 2014; “Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Thạch Trà, tỉnh Hà Tĩnh” của tác giả Nguyễn Đình Thanh, năm 2015.“Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Đức Thanh Liêm, năm 2016. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢNVỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái niệm về quản lý Từ khi xã hội loài người được hình thành, HĐ tổ chức, QL đã được quan tâm.
HĐQL bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là HĐ giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về QL theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm.
Sau đây là một số khái niệm thường gặp: C. Mác đã viết “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [10].Taylor (1856 – 1915) là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái QL theo khoa học. Để trả lời câu hỏi QL là gì ông cho rằng: QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [7]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [26].
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. QL một hệ thống là quá trình tác động đến 11 hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặt trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn” [22]. Các tác giả Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn cho rằng: “QL là tác động của chủ thể QL vào đối tượng QL trong một tổ chức (hay một hệ thống xã hội) với những PP vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, nhằm đạt mục tiêu chung cũng như mục tiêu riêng của các đối tượng trong tổ chức”[9].