Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đánh giá giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý đánh giá giáo viên các trường tiểu học huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo chuẩn nghề nghiệp. Chương 3: Biện pháp quản lý đánh giá giáo viên các trường tiểu học huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo chuẩn nghề nghiệp. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.
Lý luận về quản lý 1. Quản lý Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung.Mác đã khẳng định:“Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đạt được mục đích chung.
Trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý. Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội. Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất từ cộng sản nguyên thủy đến nền văn minh hiện đại, trong đó quản lý luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.
Thuộc tính đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động tập thể - lao động xã hội của con người. Trong quá trình lao động con người buộc phải liên kết lại với nhau, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, phải có sự quản lý. Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra.
Mặc dù quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với xã hội nhưng chỉ khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý mới được tách ra thành một chức năng riêng của lao động xã hội; dần dần hình thành những tập thể, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý - hệ thống quản lý (chủ thể quản lý). Xã hội càng phát triển về trình độ và quy mô sản xuất, về văn hóa, khoa học, 10 kỹ thuật công nghệ, thì trình độ quản lý, tổ chức, điều hành và công nghệ quản lý cũng càng được nâng lên và phát triển không ngừng. Quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp; vừa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, suy thoái hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là toàn cầu. Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố: sức lao động, tri thức, nguồn vốn, tài nguyên, năng lực quản lý.
Trong đó năng lực quản lý được xếp hàng đầu. Năng lực quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp tri thức với việc sử dụng sức lao động, nguồn vốn và tài nguyên để phát triển xã hội. Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại nếu buông lỏng hay quản lý tồi thì sẽ mở đường cho sự rối loạn, kìm hãm sự phát triển xã hội. Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh).
Trong văn bằng Thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA Master of Business Administration). Ngoài ra trong Tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là Management vừa có nghĩa quản lý, vừa có nghĩa quản trị, nhưng hiện nay được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị. Trong thực tế, thuật ngữ “quản lý” và “quản trị” vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau. Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ “quản lý” gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ “quản trị” được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế).
Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình “quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”. Hoạt động quản lý xuất hiện từ sự phân công lao động trong một tổ chức và hoạt động đó như là một yêu cầu khách quan khi cần hợp tác các nổ lực của người lao động trong tổ chức để đạt được mục tiêu chung. Khái niệm quản lý được các nhà khoa học diễn đạt theo nhiều nghĩa khác nhau. Cụ thể như: Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [23, tr.
Theo các tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heiznz Weihrich: “Quản lý là thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các 11 nhóm có thể hoàn thành mục tiêu” [16, tr. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của một chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [08, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khác thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [26,tr. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [14,tr.
“Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” [18]. Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những hoạch định của chủ thể quả lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17,tr. Theo tác giả Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [11,tr. Từ những quan niệm trên cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.
Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền từ những hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đã định ra. Từ nội hàm của một số khái niệm quản lý nêu trên, có thể thấy: Quản lý luôn luôn gắn liền với người có trách nhiệm quản lý một tổ chức (chủ thể quản lý) với vai trò tác động đến những người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt tới mục tiêu quản lý. Mục tiêu quản lý là cái đích mà người quản lý cần đạt tới nhờ vào việc huy động và điều phối một cách hiệu quả mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức. 12 Các tác động của chủ thể quản lý phải liên tục, hợp quy luật, có chủ đích (hướng tới mục tiêu), có sự tổ chức (huy động, phân bổ mọi nguồn lực vật chất và điều hành các khách thể quản lý), có sự chỉ đạo (theo dõi, giám sát, động viên, khích thích và uống nắn kịp thời) và có sự kiểm tra, đánh giá kết quả công việc để đưa ra các quyết định chính xác nhằm phát huy thành tích, điều chỉnh hoặc xử lý các sai phạm.
Nói cách khác, phương thức, nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý như có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, linh hoạt, có hệ thống và phù hợp với quy luật… trong môi trường hoạt động của tổ chức luôn luôn thay đổi. Như vậy có thể hiểu: Quản lý một tổ chức là sự tác động liên tục, có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để đạt tới mục tiêu đã định trong môi trường luôn luôn thay đổi. Chức năng quản lý Về chức năng quản lý, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về chức năng cơ bản của quản lý như: “Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [26,tr. “Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đã đề ra” [27,tr.
Như vậy, có thể hiểu chức năng quản lý là phương thức, nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong quá trình quản lý các hoạt động của tổ chức.