phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài iệu tham khảo và phụ lục. Luận v n đƣợc trình bà trong 3 chƣơng: 6 Chƣơng 1: Cơ sở uận về quản công tác chủ nhiệm lớp ở trƣờng Trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng quản công tác chủ nhiệm lớp ở các trƣờng Trung học phổ thông tại huyện Bắc Tân U ên, Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Các biện pháp quản công tác chủ nhiệm lớp ở các trƣờng Trung học phổ thông tại huyện Bắc Tân U ên, Bình Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Lịch sử nghiên cứu đề tài 1. Ở nƣớc ngoài Trong xã hội cộng sản ngu ên thủ giáo dục chƣa có trƣờng lớp chu ên biệt Đến chế độ chiếm hữu nô ệ, giáo dục đã có trƣờng học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo lớp đƣợc hình thành từ thế kỷ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Commenxke đề xƣớng Để QL lớp học, nhà trƣờng cử ra một trong những GV giảng dạy àm chủ nhiệm lớp GVCN đƣợc HT lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có u tín với HS, đƣợc Hội đồng giáo dục nhất trí phân công chủ nhiệm các ớp học để thực hiện mục tiêu giáo dục.5] Đối tƣợng của giáo dục trong nhà trƣờng à những con ngƣời đang trong quá trình phát triển: sinh động, sống động, biến đổi hàng ngà Một nhà sƣ phạm nổi tiếng của nƣớc ngoài đã nói rằng: điều quan trọng nhất đối với nhà giáo à phải “hiểu người rồi mới dạy người”[34] Nhà giáo dục nổi tiếng V A Xukhôm inxki cũng đã từng nói: “muốn giáo dục con người về mọi mặt thì trước tiên cần phải hiểu con người về mọi mặt như thế”[31] Điều đó cũng có nghĩa rằng, muốn tác động đến ngƣời học có hiệu quả, nhất định phải hiểu đƣợc tâm í ngƣời học, do đó, những tri thức cơ bản về đặc điểm phát triển tâm í học sinh à thực sự cần thiết đối với tất cả các nhà giáo dục, từ nhà quản í đến ngƣời àm chƣơng trình, ngƣời trực tiếp giảng dạ , giáo dục học sinh. Makarenco cho rằng: “Tập thể là một cơ thể xã hội sinh động thể hiện sức mạnh tổng hợp của các thành viên của nó.
Sức mạnh của các thành viên một khi đã được liên kết lại một cách có mục đích, có tổ chức thì sẽ tạo ra sức mạnh chung của tập thể mạnh gấp nhiều lần tổng số sức mạnh của các thành viên riêng lẻ, đồng thời có tác dụng làm tăng lên sức mạnh của từng thành viên. Ở trong nƣớc CTCN lớp có ảnh hƣởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách cho học sinh. Cho nên các nƣớc phát triển đã chỉ ra những nội dung giáo dục cho học sinh trung học mà có 8 iên quan đến CTCN lớp nhƣ: giáo dục k n ng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hƣớng nghiệp… Việc nghiên cứu về CTCN lớp còn ít đề tài công trình nghiên cứu Tu nhiên trong một chừng mực nhất định, hƣớng nghiên cứu nà cũng đƣợc đề cập đến trong một số công trình nhƣ: “Lí luận giáo dục” của nhóm tác giả Phan Thanh Long, Trần Quang Cấn, Nguyễn V n Diện đã đƣa ra những chức n ng cơ bản của giáo viên chủ nhiệm, những nội dung CTCN, một số phƣơng pháp giáo dục học sinh Để àm đƣợc CTCN lớp yếu tố quan trọng nhất đó à n ng ực của ngƣời GVCN.[19] “Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT” của Hà Nhật Th ng (chủ biên), đã trình bà những cách thức thực hiện CTCN lớp ở các trƣờng phổ thông [28] Nhóm tác giả Hà Nhật Th ng, Ngu ễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ đã giới thiệu những nội dung cơ bản về CTCN lớp trong tác phẩm “Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông” [27] Trong tác phẩm: “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” của Nguyễn Dục uang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, các tác giả đã đề cập đến yếu tố tâm ảnh hƣởng đến giao tiếp giữa GV và HS cũng nhƣ quá trình GD và hình thành nhân cách HS, hình thành tập thể HS.[22] “Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp” của trƣờng cán bộ quản giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu tƣơng đối đầ đủ các k n ng giải quyết vấn đề thuộc CTCN lớp. Luận v n thạc s n m 2010 “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tỉnh Thái Nguyên”, của tác giả Trần Thị Thú đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và QL của HT đối với đội ngũ GVCN, hoạt động CTCN lớp.
Qua nghiên cứu thực trạng tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp QL CTCN lớp của các trƣờng THPT tỉnh Thái Ngu ên [29] Ngoài ra, có thể tìm thấ hƣớng nghiên cứu đề tài nà trên một số bài báo, tạp chí nhƣ: Phạm Minh Hùng (2010) trong bài viết “Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay” đã đề cập đến giáo dục học sinh qua tập 9 thể và bằng tập thể, một ngu ên tắc giáo dục quan trọng mà ngƣời khởi xƣớng à nhà giáo dục nổi tiếng A.S Macarenco, nhằm nâng cao n ng ực cho GVCN.[14] Nguyễn Dục Quang (2010) trong bài viết “Bàn về năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” đã đề cập đến vấn đề cơ bản của CTCN lớp, những nội dung trong CTCN lớp ở trƣờng phổ thông từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học Tác giả đã đƣa ra một số nội dung cơ bản cho CTCN lớp, đề cao vai trò của ngƣời GVCN trong giáo dục học sinh, và những nội dung cần thiết đòi hỏi ngƣời GVCN tự bồi dƣỡng và đƣợc bồi dƣỡng nâng cao n ng ực giáo dục. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về công tác GVCN ớp nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về quản công tác chủ nhiệm lớp ở trƣờng THPT tại huyện Bắc Tân U ên, tỉnh Bình Dƣơng Do êu cầu thực tế của công tác QL giáo dục, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu thực trạng quản công tác chủ nhiệm lớp tại các trƣờng THPT ở địa bàn hu ện Bắc Tân U ên, tỉnh Bình Dƣơng để đề ra những biện pháp QL hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của một huyện vùng sâu vùng xa 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trƣờng 1.
Quản lý Trong ĩnh vực QL, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về khoa học QL nói chung và QL giáo dục nói riêng, điển hình nhƣ: Theo Đại từ điển tiếng việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan”[35] Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” [17] Tác giả Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [13] Nhƣ vậy, những định nghĩa trên tu có khác nhau về cách diễn đạt, về các góc độ tiếp cận nhƣng đều thống nhất ở điểm chung: QL à quá trình tác động có tổ chức, có thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể 10 QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm n ng và cơ hội của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục QL giáo dục à thiết kế và du trì một môi trƣờng mà trong đó các cá nhân àm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu giáo dục đã định Theo tác giả Trần Kiểm thì khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô * Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [18] * Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [18] QL giáo dục à hoạt động điều hành, phối hợp, hu động các ực ƣợng giáo dục và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ à sự nghiệp của các nhà trƣờng, của ngành giáo dục - đào tạo mà à sự nghiệp chung của cả xã hội. Quản lý nhà trường Trƣờng học à tế bào của hệ thống giáo dục các cấp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, à thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp QL giáo dục, đồng thời nó cũng à một hệ thống độc ập, tự quản của xã hội Bởi vậ mọi hành động của QL giáo dục cấp trên đều phải hƣớng về trƣờng học Có thể nói QL giáo dục su cho đến cùng à QL trƣờng học Theo Phạm Minh Hạc (1986): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[10]. 11 Theo Phạm Viết Vƣợng (2004): “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[32] Ngu ễn Ngọc uang (1989) cho rằng QL nhà trƣờng à: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp.